Phương Pháp Sử Dụng La Bàn Đúng Cách Trong Phong Thủy Học

Phương Pháp Sử Dụng La Bàn Đúng Cách Trong Phong Thủy Học

LA BÀN PHONG THỦY

La Bàn là công cụ quý giá giúp con người tìm hiểu về phong thủy, giúp quan sát, tìm kiếm mổ mả, nhà cửa. Thuật phong thủy cho rằng, la bàn có thể giúp dự đoán được về tự nhiên trời đất, lại có thể đoán được sự may rủi, phúc họa của con người
Kim chỉ nam – La bàn về phong thủy có nguồn gốc từ một trong bốn phát minh cổ đại lớn của đất nước  Trung Quốc. Ở thời kỳ cổ đại, kim chỉ nam chủ yếu dùng để phân biệt phương hướng, dùng cho ngành hàng hải và phong thủy trong việc định hướng âm phần và dương phần

Phương Pháp Sử Dụng La Bàn Đúng Cách Trong Phong Thủy Học

“Tư nam” thời Chiến quốc

Khoa học thời cận đại đã chỉ rõ, trái đất mà loài người chúng ta sinh sống có một lượng nam châm lớn từ đó hình thành nên từ trường trái đất. Vị trí cực Âm của dòng từ trường này tiếp cận với cực Bắc của trái đất, cực Dương thì lại tiếp cận với cực Nam của trái đất. Dựa vào nguyên lý từ tính: cùng dấu thì đẩy nhau, khác dấu hút nhau nên tất cả các sự vật hiện tượng trên trái đất cũng đều mang tác dụng cực tính.
Đất nước Trung Quốc đã sớm phát hiện ra những viên đá nam châm và tính hút kim loại của nó. Theo ghi chép lại trong thư tịch cổ, sau khi thống nhất đất nước được sáu năm, Tần Thủy Hoàng cho tập hợp mấy trăm nghìn người để xây dựng một cung A phòng to lớn, đẹp đẽ và hướng phòng về phía Đông Nam. Cửa phía Bắc dùng chính đá nam châm để xây dựng. Lúc đó đã gọi cửa phía Bắc này là “Từ Thạch Môn”, được dùng để phòng khi có thích khách. Nếu có người mặc áo giáp, cầm đao sắt đột nhập vào cung điện, sẽ bị cánh cửa nam châm hút chặt vào.
Trong nhiều cuốn sách cổ đều ghi chép lại mẩu chuyện xây cửa bằng nam châm đá của Tần Thủy Hoàng.
Đất nước Trung Quốc không chỉ sớm phát hiện ra nam châm đá và tính hút sắt, mà còn sớm phát hiện ra tính năng xác định cực của nó. Mỗi viên nam châm đá đều có hai cực từ không giống nhau, đó là cực Nam và cực Bắc. Những cực từ giống nhau khi gặp nhau thì sẽ đẩy nhau; chỉ có những cực từ khác nhau khi gặp nhau thì mới hút lẫn nhau. Nếu treo một thanh nam châm lơ lửng trên không, sau đó dùng một thanh nam châm khác để thử nghiệm, nhất định có một đầu của thanh nam châm này hút chặt thanh nam châm treo trên không, một đầu còn lại sẽ đẩy thanh nam châm treo trên không kia. Cho nên, kể cả dùng một chiếc kim nam châm rất nhỏ, dựng đứng lên, đặt nó vào trong không trung, như vậy, một đầu bên cực Nam của nó sẽ hút cực Bắc của những nam châm ở gần cực Nam trái đất, chỉ về hướng Nam; còn lại, một đầu cực Bắc của nam châm sẽ hút cực Nam của những nam châm ở gần cực Bắc trái đất, chỉ hướng Bắc. Những tính chất này của nam châm, trên phương diện khoa học gọi là tính chỉ cực.
Dựa vào ghi chép để lại, thời kỳ Chiến quốc ở đất nước Trung Quốc đã bắt đầu ứng dụng nguyên lý về tính chỉ cực của nam châm đá, đã làm ra được một công cụ để chỉ phương hướng Nam Bắc, đó là “Tư nam”.
Trong cuốn sách Quỷ Cốc Tử nói đến người nước Trịnh tranh cướp ngọc, phải mang theo Tư nam, như vậy mới có thể khỏi lạc mất phương hướng. Tư nam là từ mang ý nghĩ chỉ phuơng hướng. Tư nam xuất hiện thời Chiến quốc là thiết bị chỉ phương hướng sớm nhất trên thế giới.
Căn cứ vào kiểm nghiệm, Tư nam được làm từ nam châm đẽo đi mà tạo thành. Hình dáng của Tư nam giống như cái thìa canh, có một cái chuôi dài và đáy tròn. Ngoài ra kết hợp cùng với nó còn có một chiếc bàn đồng hoặc bàn gỗ, phía trên còn phải có Bát quái và Thiên can Địa chi biểu thị phương hướng, vị trí. Chiếc bàn đồng hoặc bàn gỗ này được gọi là Địa bàn. Lúc này, cái muôi canh dùng đá nam châm tạo thành đặt ở phía trên, cho quay cái chuôi, cái đáy tròn thì bỏ vào trên mặt bàn. Dùng tay di chuyển cái chuôi dài của thìa canh một chút, đợi khi muôi canh dừng lại, hướng mà chuôi của chỉ chính là hướng Nam.
Tư nam thời Chiến quốc chính là tiền thân của La bàn phong thủy sau này.

La bàn Lục Nhâm của thời Hán

Phương Pháp Sử Dụng La Bàn Đúng Cách Trong Phong Thủy Học
Phương Pháp Sử Dụng La Bàn Đúng Cách Trong Phong Thủy Học

Bàn theo nghi thức Lục Nhâm, là một loại dụng cụ thời cổ đại dùng để chọn ngày và để rút quẻ lành giữ. Bàn theo nghi thứ Lục Nhâm được thời đại nhà Hán hoàn chỉnh. Ngày nay theo như được biết, mới chỉ phát hiện ra hai cái, một cái là được phát hiện vào năm 1972 ở Cam Túc, Trung Quốc trên cái cối xay lớn, một cái muôi được phát hiện ở một làng đánh cá, huyện Tảo Dương, tĩnh An Huy, Trung Quốc.
Bàn theo nghi thức Lục Nhâm của người Hán là ứng dụng cụ thể của thuật bói Lục Nhâm thời kỳ cổ đại. Do thuật dùng số trong những cuốn Dịch kinh Trung Quốc thời kỳ cổ đại ngày càng tăng với số lượng lớn, đã ảnh hưởng lớn đến cách dùng ba loại bói: Lục Nhâm, Độn Giáp, Thái Ất, theo cách gọi ngày xưa là Tam thức. Trong ba hình thức bói này lại coi Lục Nhâm là cổ nhất.
Cái tên gọi Lục Nhâm có nguồn gốc từ 60 năm hoa giáp. Bởi vì trong hoa giáp 60 năm có Nhâm Thân, Nhâm Ngọ, Nhâm Thìn, Nhâm Dần, Nhâm Tý, Nhâm Tuất. Chữ Nhâm được hàm ý là tính cách của vạn vật thì không bao giờ vượt quá giới hạn. Sách Lục Nhâm loại tập, Thiên Cục ngoại hành tàng viết rằng: “Chữ Nhâm, vốn là những thuật về đạo lý được chuẩn bị đến mức cơ bản, nhìn rộng ra gồm 6 chữ, quan sát kĩ là từng hạt bụi nhỏ, lý giải thông suốt tạo hóa, nghĩ khắp phong trần, bao gồm tính cách hữu hạn của muốn vật… Giữ gìn vẹn toàn đặt hàng đầu, trời đất yên ổn; dùng nó thì thế gian thái bình”.
Lý luận trong bói toán Lục nhâm dựa vào thuyết Ngũ hành và Âm dương, khởi đầu từ Thủy trong Ngũ hành, cử âm đế  khơi dương, mở rộng trời đất, thiết lập nên Thiên bàn và Địa bàn. Thiên kết hợp với 12 chi, trong Thiên bàn đã có 12 tháng và 28 chòm sao. Thiên địa giao cảm, trong Địa bàn gần có 12 chi và 28 chòm sao. Liên hệ Âm dương với hai nghi thức, tứ tượng với nhau lại có tứ nhã và tứ môn, mở rộng ra thành tứ khoá. Trong tứ khoá lại chia thành 3 truyện từ đó được 64 khoá.
La bàn theo nghi thức Lục nhâm của người Hán phân chia thành hai bộ phận, một là bàn tròn ở trên, gọi là “Thiên bàn”; hai là bàn vuông nằm dưới bàn tròn, gọi là “Địa bàn”. Với ý nghĩa là “trời tròn đất vuông”.
Trên Thiên bàn, ở giữa có hình 7 ngôi sao Bắc Đẩu, xung quanh có hai vòng tròn con dấu, bên trong vòng tròn có các chữ “chính, nhị, tam, tứ, ngũ, lục, thất, bát, cửu, thập, thập nhất, thập nhị”, bên ngoài vòng tròn là 28 chòm sao: “Sao Cung, sao Bích, sao Khuê, sao Lâu, sao Vị, sao Mão, sao Tất, sao Chủy, sao Sâm, sao Tỉnh, sao Quỷ, sao Liễu, sao Tinh, sao Trương, sao Dực, sao Chẩn, sao Giác, sao Cang, sao Đê, sao Phòng, sao Tâm, sao Vĩ, sao Cơ, sao Đẩu, sao Ngưu, sao Nữ, sao Hư, sao Nguy”.
Vòng trong ở trong từ chữ số 12 của phần chính tác phẩm là đại diện cho 12 nguyệt tướng, trong đó “chính” biểu thị “ tháng giêng”, “nhị” là “tháng hai”, “tam” là “tháng 3”, “tứ” là “tháng 4”, “ngũ” là “tháng 5”, “lục” là “tháng 6”, “thất” là “tháng 7”, “bát” là “tháng 8”, “cửu” là “tháng 9”, “thập” là “tháng 10”, “thập nhất” là “tháng 11”, “thập nhị” là “tháng chạp”. Chữ số từ “chính” dần “thập nhị”, cũng có hình thức bàn dùng 12 chi thay thế, như là tháng giêng là Hợi tướng, tháng 2 là Tuất tướng, tháng 3 là Dần tướng, tháng tư là Thân tướng, tháng 5 là Mùi tướng, tháng 6 là Ngọ tướng, tháng 7 là Tỵ tướng, tháng 8 là Thìn tướng, tháng 9 là Mão tướng, tháng 10 là Dậu tướng, tháng 11 là Sửu tướng, tháng 12 là Tý tướng. Mười hai tháng (12 nguyệt tướng) còn gọi là “12 thần”, tháng giêng sẽ là Trưng minh, tháng hai là Thiên khôi, tháng ba là Tòng khôi, tháng tư sẽ là Truyền tống, tháng năm là Thắng tiên, tháng 6 là Tiểu cát, tháng 7 là Thái nhất, tháng 8 là Thiên canh, tháng 9 là Thái xung, tháng 10 là Công tào, tháng 11 là Đại cát, tháng 12 là Thần hậu. Trong 12 thần, Thiên can chỉ một sao của chòm sao Bắc đẩu, Tòng khôi chỉ 2 sao của chòm sao Bắc đẩu, Thiên khôi chỉ 3 sao của chòm sao Bắc đẩu. Trong Thiên bàn, sao thứ nhất trong chòm sao Bắc đẩu luôn luôn chỉ hướng Thiên can hoặc chỉ hướng tháng 8, trong Thiên bàn của dạng thức bàn như này chỉ hướng bát, chính là mang ý nghĩa như vậy. Vương Sung trong sách Luận hành, thiên nan phát đã viết rằng: “Từ Trưng minh đến Tòng khôi trong 12 thần đều được gọi là thiên thần”.
Trên Địa bàn, có 3 tầng của con dấu. Tầng bên trong là tám can tứ duy,, Tám can gồm Đinh Bính ở phía Nam, Ất Giáp ở phía Đông, Quí Nhâm ở phía Bắc, Tân Canh ở phía Tây; Tứ duy nằm ở tứ ngung của tầng trong, góc phía Đông Nam là “Thổ đẩu mậu”, góc phía Tây Nam là “ Nhập (nhân) nhật kì”, góc phía Tây Bắc là “Thiên kỉ”, góc phía Đông Bắc là “Quỉ nguyệt mậu”. “Thiên”, “Thổ”, “Nhân”, “Quỉ” của tứ duy là tứ môn. Theo sách Lục nhâm thần định kinh của Dương Duy Đức thời Tống có nói: “Thiên môn ở Tây Bắc, ở giữa Tuất Hợi của phía Tây Bắc; Địa hộ ở Đông Nam, ở phần giữa Thìn Tỵ của phía Đông Nam; Nhân môn ở Tây Nam, ở giữa Thân Mùi của phía Tây Nam; Quỷ môn ở Đông Bắc ở phần giữa Sửu Dần của phía Đông Bắc”.
Tứ duy trong Địa bàn theo hình thức Lục nhâm mà thời Hán có, đã thể hiện trực tiếp có: “Mậu môn, Thiên môn, Kỷ quỉ môn, Mậu thổ môn, Kỷ nhân môn”. Theo sách Hán thư  “Mão Dậu là Cách chính, Ngọ Hợi là Cách mệnh, Hậu thần ở Thiên môn, Ngôn thần ở Tuất Hợi”.
Cách sử dụng của Lục Nhâm theo hình thức bàn của thời nhà Hán, có phương pháp đơn giản như sau:
Giả định vào một năm nào đó có ngày Đông chí vào ngày 28 tháng 11, mặt trời ở vào góc lệch 21° so với sao Bắc đẩu. 21° theo sao Bắc đẩu là dựa vào Tam thống lịch hình thành ở giữa 12° theo sao Bắc đẩu và 7° theo sao Nữ thất, là 12 thuộc thần Đại cát, là Sửu tướng, có thể nhìn được vào giờ Thìn, ngày 7 (Giáp Thân), tháng 11. Ngày mồng 7 đầu tháng 11 cách ngày 28 tháng 11 còn kém 11 ngày, phàm là 11°, từ 21° giảm đi 11°, sẽ là ngày mồng 7 đầu tháng 11 mặt trời sẽ ở 10° so với sao Bắc đẩu, ở giữa phần 10° theo sao Vì đến 11° theo sao Bắc đẩu, 12 thuộc thần Kỷ, thuộc Cung tào, là Dần tướng. Người xưa thường mong đến giờ Thìn, ngày Giáp Thân, Dần tướng để xem.
Trước tiên theo cách sắp xếp chính thức của Thiên Địa bàn trong các dạng bàn. Gần tướng thứ 12 trong Thiên bàn là Tý, đối xứng với đúng giờ Tý trong Địa bàn, hướng về phía Nam (buổi sớm hướng về phía Nam, chiều hướng về phía Bắc). Tay trái cầm vào góc Đông Bắc của Địa bàn chính là vị trí của Quỉ nguyệt môn. Tay phải chuyển động Thiên bàn, điều chỉnh cho Dần tướng của Thiên bàn đối xứng đúng với giờ Thìn trên Địa bàn. Làm như vậy là sẽ có thể tính được Tứ khóa và Tam truyền trong thức Lục nhâm.
Tính đến Tứ khoá của ngày Giáp Ất, giờ Thìn, Dần tướng là: Khóa thứ nhất là Tý Giáp, khóa thứ hai là Tuất Tý, khóa thứ ba là Ngọ Thân, khóa thứ tư là Thìn Ngọ. Tam truyền mà được tính đến là: Ngọ trong sơ truyền, Thìn trong tái truyền, Dần trong tam truyền. Căn cứ vào tứ khóa và tam truyền, là có thể đoán được sự lành dữ trong ngày.
Trong sách Lục Nhâm đại chiêm của Tống Chúc Mật kể lại có 30 chiêm theo Lục Nhâm binh cơ, đó đều là những ví dụ về cách dùng hình thức Lục Nhâm đối với quân sự. Ví dụ, “Đại tướng cư phương thủ Hợi nghi”, ý chỉ phương hướng khi lập hàng rào bảo vệ cho doanh trại nên chọn hướng Hợi, cách làm cụ thể là đặt đối xứng đúng tướng chỉ tháng trên Thiên bàn với giờ mà 12 chi thay thế ở trên Địa bàn, rồi kiểm tra xem tướng của tháng giêng trên Thiên bàn có chính là Hợi tướng rơi trên phương nào của Địa bàn. Phương đó chính là phương chọn làm. Giả dụ, đặt tháng 3 trên Thiên bàn đối xứng với đúng giờ Mùi trên Địa bàn, tháng giêng trên Thiên bàn cũng chính là Hợi tướng, sẽ rơi vào phương trên Dậu của Địa bàn, Dậu chính là phía Tây, cũng tại phương này xây dựng doanh trại là thích hợp. Các cách khác cũng làm tương tự. Còn như trong sách Lục nhâm quân trướng phú nói rằng: “Những nơi mà có đầm lầy, Thiên can sẽ chỉ chỗ để quan sát thực địa”, điều đó có nghĩa là dùng dạng thức bàn của Lục nhâm để tìm tuyến đường hành quân

Phương Pháp Sử Dụng La Bàn Đúng Cách Trong Phong Thủy Học
Phương Pháp Sử Dụng La Bàn Đúng Cách Trong Phong Thủy Học

Phương pháp bói theo phương thức bàn của Lục nhâm phức tạp. Trong sách Đại lục nhâm loại tập mà đang lưu hành có một quyển Kim khoa ngọc luật quyết đã làm một để tài mang tính đại cương về nguyên tắc sử dụng dạng thức bàn của Lục nhàm, có một tác dụng nhất định đôi vổi việc tàng thêm hiểu biết dạng thức bàn của Lục nhâm.
Sự khơi nguồn của La bàn Lục nhâm rất sớm. Trong cuốn sách Chu lễ, Xuân quan tống bá đã nói: “Đại sư, ôm Thiên thời đi cùng trên xe”. “Ôm thiên thời”, căn cứ theo chú thích của Trịnh Huyền là: Ôm thức trần thế để biết được thời cơ”. “Thức” ở đây chính là la bàn. Trong sách Ngô Việt xuân thu đã nói đến việc Ngũ tử khuyên can vua nước Ngô phải dùng đến “Đại cát vi Bạch hổ nhi lâm tân, Công Tào vi Thái thường nhi lâm Hợi”. “Đại Cát” và “Lâm Tân”(gần ngôi thứ 8 trong Thiên can) chính là tướng Sửu, giờ Tân, “Công Tào” và “Lâm Hợi” (gần ngôi cuối cùng trong Địa chi) chính là tướng Dần, giờ Hợi. Cách xem này đều dùng đến dạng thức bàn của Lục Nhâm. Trong sách Ngô Việt xuân thu ghi chép cách xem kiểu lục nhâm có nói đến chữ “kim quĩ đệ bát”, rất có khả năng là chỉ cuốn sách số tám “Kham dư kim quĩ” trong sách Nghệ văn chí của Hán thư. Trong sách Thiên văn huấn của học giả Hoài Nam Tử có nói “Kham” là đạo trời, chính là Thiên bàn trong dạng thức bàn, “Dư” là đạo đất, chính là Địa bàn trong dạng thức bàn. “Kham dư kim quí” sơ lược là sách chuyên về Lục nhâm thời kỳ đầu. Cuốn sách Hoàng đế kim quí ngọc hoành kinh của thế hệ sau lưu truyền cũng là một bộ sách chuyên về Lục nhâm. Trong cuốn sử kí có viết là: “Phân sách định quẻ, hoàn thức chính kỳ”. Từ “thức” trong câu trên cũng chính là hình thức Lục nhâm. Trong cuốn Sách ân của Tư Mã Trinh đã chú thích là: “Hình dáng của la bàn trần thế, phía trên tròn giống trời, phía dưới vuông giống đất”.
Dạng thức bàn của Lục nhâm là công cụ xem bói được thường xuyên sử dụng ở thời đại nhà Hán. Trong sách Hán thư, Vương Mãng truyện đã ghi chép lại: “Thiên văn lang án thức vu tiền”, đại ý là La bàn thường để trước quan Thiên văn. Từ sau thời nhà Hán, dạng thức bàn của Lục nhâm có sự phát triển rộng khắp. Căn cứ vào những ghi chép của thời nhà Tống, dạng thức bàn của Lục nhâm còn dựa vào giai cấp độ đế chia thành bốn loại, đó là: Thức Thiên tủ, thức Công hầu bá, thức Trần Thế Khanh đại phu và thức Vương thứ nhân.

La bàn phong thủy

La bàn phát minh từ cuối đời Đường, chủ yếu đùng để thăm dò địa chất, khoáng sản.- Sau thời nhà Tống, la bàn được sử dụng rộng rãi để xác định phương hướng, đến triều đại nhà Minh, Trung Quốc cùng thế giới, ngành hàng hải đạt được nhiều lợi ích từ la bàn. Từ thời Minh Thanh cho đến ngày nay, la bàn đã trở thành công cụ không thể thiếu trong hoạt động thăm dò mộ, xem nơi ở của các thầy phong thủy. Tất cả hoạt động tìm kiếm mạch nước, tìm huyệt, thôn xóm, làng mạc và ao hồ… đều phải dựa vào la bàn để dự đoán, xác định.

Phương Pháp Sử Dụng La Bàn Đúng Cách Trong Phong Thủy Học
Phương Pháp Sử Dụng La Bàn Đúng Cách Trong Phong Thủy Học

La bàn còn được gọi là La kinh. La bàn thông qua những con chữ trong phạm vi nhất định, đã hợp nhất những vấn đề về triết học có liên quan đến tự nhiên vũ trụ của Trung Quốc thời cổ đại như: Âm dương, Ngũ hành, Bát quái, Thiên can, Địa Chi, 12 thứ, 24 giờ, 28 chòm sao thành một thể thông nhất.
Đối với những thầy phong thủy mà nói, la bàn có ma lực thần thánh hô gió gọi mưa, có thể phân biệt được cả mức độ sang hèn, còn có thể suy đoán được sự may rủi, lành dữ của thời gian và ngày tháng. Đây là do những thầy phong thủy làm không rõ giới hạn giữa mê tín với khoa học, đã mượn khoa học để hành nghề bói toán.
La bàn nói chung là do Thiên bàn và Địa bàn tạo thành. Thiên bàn có hình tròn, dưới đáy bàn có chỗ lồi ra, dùng đặt ở trên vòng tròn lõm của bàn đất có thể xoay chuyển được. Ở chính giữa Thiên bàn có lắp thêm một cây kim chỉ nam, hay được gọi là kim từ, kim vàng, hướng gốc phần lớn được đặt chỉ về hướng Nam. Những ông thầy phong thủy gọi cây kim chỉ nam này là kim thang. Trên thực tế, hướng mà kim thẳng chỉ lại không phải đúng hướng Nam, mà là hơi chệch sang hướng Đông một chút, gọi là độ lệch từ, bởi lẽ cực từ trên trái đất không phải là vừa đúng với cực Bắc Nam. Để dự đoán được đúng hướng Nam, lại cần phải thiết kế thêm một kim tạo khe hở. Ở giữa chính kim và kim tạo khe hở này sẽ hình thành nên góc lệch từ.
Địa bàn có hình vuông. Trên Địa bàn có hai sợi dây hình chữ thập, ở giũa có hình tròn lõm để tiện cho việc lắp đặt Thiên bàn vào. Thiên bàn và Địa bàn, một tròn, một vuông, có ngụ ý tượng trưng cho trời tròn, đất vuông.
La bàn ngày xưa nhất định phải dùng nguyên liệu bằng gỗ để chế tạo. Bởi vì theo người xưa làm như vậy có thể tránh khỏi sự xung khắc lẫn nhau. Đồng thời kim chỉ của la bàn được làm phải linh hoạt, không thể có một chút kém chất lượng.
La bàn có rất nhiều quy cách và chủng loại, nhưng loại la bàn cơ bản là có 3 bàn, 3 kim. La bàn đó là: Thiên bàn, Địa bàn, Nhân bàn. Còn ba kim là: kim thang, kim tạo góc lệch và kim ở giữa. La bàn được ứng dụng trong thực tế, phương hướng Bắc Nam mà kim thẳng chỉ ra chính là vị trí của địa cầu, coi là Địa bàn; phương hướng Bắc Nam mà do kim tạo góc lệch với kim thẳng chỉ ra chính là hình chiếu của mặt trời, gọi là Thiên bàn; giờ ở Bắc cực mà do kim ở giữa chỉ ra, gọi là Nhân bàn. Sự lắp đặt tam kim và tam bàn chính là sự vận dụng trên lĩnh vực kiến trúc học về tư tưởng hợp nhất trời, đất, con người trong triết học cổ đại.
Cách sử dụng la bàn trong khi xem phong thủy chủ yếu là nhìn vào kim.
Nếu như muốn biết về hướng của một cái huyệt nào đó, hoặc hướng của một ngôi nhà nào đó, giả dụ là muốn tìm hướng của một ngôi mộ, thì sẽ kê thăng bằng la bàn trên bia đá của ngôi mộ. Còn nếu là xem hướng của nhà ở, thì sẽ kê la bàn thăng bằng ở chính giữa đất nhà, hoặc là kê thăng bằng ở chính giữa nhà. Sau khi kê thăng bằng la bàn xong, cần phải loại bỏ sạch hết những vật bằng kim loại để tránh sự ảnh hưởng trong việc chỉ hướng của kim. Đồng thời còn phải dùng nước tinh khiết rủa sạch Thiên bàn. Bên cạnh đó còn phải lắc cái kim vài lần, quan sát tình hình của mỗi lần kim lắc lư và mối quan hệ giữa kim và đường chỉ giờ, rồi căn cứ vào đó để phán đoánlành dữ. Thuật phong thủy đã khái quát sự lay động của kim ngay lúc đó và mối quan hệ với đường chỉ giờ thành tám nguyên tắc, gọi là Bát kỳ. Bát kỳ này, là: Đường, Đoài, Khí, Thám, Trầm, Toại, Trắc, Chính.
–   Đường: Kim có thể nổi nhưng không cố định một chỗ, không qui về đường ở giữa, chứng tỏ trong đất đó có nhiều cổ vật.
–   Đoài: Kim có hiện ra nằm ngang, không qui về đường kim chỉ giờ, chứng tỏ rằng trong nơi đó có vật thuộc kim loại.
–   Khí: Kim di chuyển chứ không ổn định, chứng tỏ rằng trong nơi đó có dị vật.
–   Thám: Kim một nửa bị ghìm xuống, một nửa thì nổi lên, nói cách khác là một đầu kim thì bị ghìm xuống, một đầu kim thì bị hút lên phía trên, chứng tỏ rằng ở nơi đó cũng có dị vật.
–   Trầm: Kim bị ghìm xuống dưới, chứng tỏ rằng ở nơi đó có đồ vật bằng đồng.
–   Toại: Kim bị hút lên phía trên chứ không chuyển động hỗn loạn, chứng tỏ rằng ở nơi đó có dị vật.
–   Trắc: Không chính giữa, kim lệch sang hướng Đông hoặc lệch sang hướng Tây, không qui về đường ở giữa, chứng tỏ rằng ở nơi đó cũng có dị vật.
–   Chính: Trở về đường ở chính giũa, kim chỉ vào đường Tý Ngọ.

Phương Pháp Sử Dụng La Bàn Đúng Cách Trong Phong Thủy Học
Phương Pháp Sử Dụng La Bàn Đúng Cách Trong Phong Thủy Học

Trong Bát kỳ nói trên, bảy nguyên tắc đầu đều là chỉ điều không lành, chỉ có nguyên tắc thứ tám chính là chỉ điều lành. Cái gọi là Bát kỳ, trên phương diện khách quan có thể nói rõ, đó chỉ là tình trạng của nhiều loại vật chất mà địa chất bao hàm. Bởi vì kim từ chỉ đưa ra những phản ánh đối với những vật bằng kim loại và vật mang từ tính mà trôn cất trong lòng đất, chứ không có bất kỳ mối liên hệ nào đối với sự lựa chọn vị trí và phương hướng. Có thể thấy, những thầy phong thủy đối với sự lành dữ như đã nói, trên thực tế có những căn cứ chưa khoa học.
Nếu như phải tìm phương hướng cho nguồn nước, thì xem đường màu đỏ trên Địa bàn chỉ về nơi giao nhau của nguồn nước, làm cho kim từ song song với đường đáy của ao hồ. Sau đó Thiên bàn sẽ chuyển động tròn, đợi sau khi Thiên bàn dừng hẳn, quan sát xem đường màu đỏ trên Địa bàn chỉ vào chữ gì trên Thiên bàn, sau đó căn cứ vào những lý luận về phong thủy để xác định sự lành dữ theo phương hướng. Nếu như phương hướng không thích hợp, cần phải điều chỉnh Địa bàn cho đến khi đặt được phương hướng thuận lợi thì dừng lại. Tìm vị trí mộ, xây dựng nhà cửa đều vận dụng phương thức trên.
Các lớp vòng tròn trên Thiên bàn đa phần không đồng đều, nhưng đơn giản nhất là chỉ có khoảng 2 – 3 vòng, nhiều và phức tạp nhất là khoảng hơn 40 vòng.
Chế tạo về la bàn của đất nước Trung Quốc thời kỳ cổ  đại, ở Quảng Đông thì có Hưng Ninh, ở Giang Tô có Tô Châu, ở An Huy có Tu Ninh, đặc biệt là la bàn mà do cửa hàng la bàn Vạn An ở Tu Ninh, An Huy chế tạo là tốt nhất. Theo ghi chép trong cuốn tạp chí của huyện Tu Ninh, Trung Quốc thì Vạn An là nơi sản xuất duy nhất trong cả nước chế tạo ra la bàn gỗ. La bàn do cửa hàng la bàn Vạn An chế tạo đã từng vinh dự đoạt giải thưởng vàng trong cuộc triển lãm có nhiều nước tham gia vào năm 1915 tại Banama. Một bộ la bàn cổ được cất giấu quý báu tại bảo tàng lịch sử Trung Quốc cũng chính là la bàn do cửa hàng la bàn Vạn An của Tu Ninh chế tạo.
Dưới đây sẽ là những giới thiệu đơn giản về một loại la bàn tương đối phức tạp có 19 lớp do cửa hàng la bàn Vạn An ở huyện Tu Ninh chế tạo.
– Tầng thứ nhất, Thiên trì: Thiên trì chính là thái cực. Kim từ dừng lại, mũi tên màu đỏ chỉ hướng Nam. Trong lý luận về phong thủy, thái cực là sự khởi đầu của vạn vật, tất cả đều do thái cực lập nên phép tắc, cân nhắc nặng nhẹ, tạo nên sự vuông tròn. Nếu như la bàn không có Thiên trì, thì không xác định được giờ, không phân chia được Âm dương, không thể phân biệt Bát quái cửu cung. Kim từ chuyển động là dương, còn tĩnh thì là âm. Trong giờ giấc được chia làm hai nghi thức. Hai nghi thức này hợp Mão (ngôi thứ tư trong Địa chi) và Dần (ngôi thứ mười trong Địa chi) thành bốn hình dáng, bốn hình này lại hợp bốn tư duy, quan niệm (về không gian) thành Bát quái, Bát quái dùng để xác định phương hướng, vị trí. Thước đo cho đường kính và thước đo cho độ sâu của Thiên trì cũng có một sự tinh tế nhất định. Đường kính trung bình là một tấc hai phân, tượng trưng cho một năm có 12 tháng, chiều sâu là ba phân, ví với một tháng có 30 ngày.
–   Tầng thứ hai là Bát quái. Bát quái là tầng thứ hai trong la bàn, hoặc là có thể là Tiên thiên Bát quái, hoặc là Hậu thiên Bát quái. Trong chiếc la bàn này là Tiên thiên Bát quái, còn đại đa số la bàn khác đều là Hậu thiên Bát quái.
–   Tầng thứ ba, Cửu tinh (9 sao): Các sao đó là Văn, Phá, Liêm, Lộc, Cự, Võ, Bật, Bần, Phụ. ở thời kỳ cổ đại, những quan điểm về 9 ngôi sao này không thống nhất. Có người cho rằng: 4 hướng (Đông, Tây, Nam, Bắc) và 5 sao tạo thành 9 sao; có người lại cho rằng: 7 sao Bắc đẩu trong chòm sao Bắc đẩu thêm hai sao Phụ, Tá tạo thành 9 sao. 9 sao trong chiếc la bàn này được phân bố thành 24 sơn hướng, tương ứng với quy luật Tiên thiên Bát quái. Bắt đầu từ quẻ Khảm (một trong tám quẻ trong Bát quái) đối xứng với hướng Bắc, thuận theo trình tự chiều kim đồng hồ: Văn, Phá, Phá, Võ, Bần, Văn, Lộc, Liêm, Bật, Phá, Cự, Võ, Bần, Văn, Võ, Liêm, Phụ, Phá, Liêm, Võ, Cự, Văn, Lộc, Liêm.
–   Tầng thứ tư là Thiên tinh. Thiên tinh gồm có: Thiên hoàng, Thiên cửu, Thiên quỷ, Thiên ất, Thiếu vi, Thiên hán, Thiên quan, Thiên chiến, Thiên đế, Nam cực, Thiên mã, Thái vi, Thiên bình, Thái ất, Thái canh, Thiên quan, Thiên mệnh, Thiên uyển, Thiên thị, Thiên trù, Thiên hán, Thiên lũy, Thiên phụ, tổng cộng có 24 ngôi. Thiên ất chính là Thiên nhất, Thiên cực chính là  sao Bắc cực, Thiên hán chính là ngân hà. Quy luật phong thủy cho rằng, 24 thiên tinh chiếu sáng 24 vị trí, sao thì có sao tốt và sao xấu, cho nên có đất lành và dữ. Trong các sao đó thì lấy Tử vi, Thiếu vi, Thiên thị, Thái vi làm Thiên tinh tứ quý. Tất cả những sao chiếu sáng xuống mặt đất. Nếu Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ hợp lại thành vòng thì đó là điều lành, còn nếu không hợp lại thành vòng thì là điều dữ. Thiên tinh trong la bàn loại này bắt đầu từ chính phương Bắc. Thiên tinh sắp xếp thuận theo chiều kim đồng hồ có: Thiên phụ, Thiên lũy, Thiên hán, Thiên trù, Thiên thị, Thiên uyển, Thiên vi, Thiên quan, Thiên canh, Thái ất, Thiên bình, Thái vi, Thiên mã, Nam cực, Thiên đế, Thiên chiến, Thiên quan, Thiên hán, Thiếu vi, Thiên ất, Thiên quỷ, Thiên trù, Thiên hoàng.

Phương Pháp Sử Dụng La Bàn Đúng Cách Trong Phong Thủy Học
Phương Pháp Sử Dụng La Bàn Đúng Cách Trong Phong Thủy Học

–   Tầng thứ năm, tầng địa chất: gồm 24 vị trí, địa chất 24 vị trí chính là 24 hướng. 24 hướng này do 8 Thiên can, 12 Địa chi và 4 quái là: Càn, Khôn, Cấn, Tốn tạo thành. Theo trật tự sắp xếp chiều kim đồng hồ từ chính hướng Bắc là: Nhâm, Tý, Quý, Sửu, Cấn, Dần, Thân, Mão, Ất, Thìn, Tốn, Tỵ, Bính, Ngọ, Đinh, Mùi, Khôn, Thân, Canh, Dậu, Tân, Tuất, Càn, Hợi. Trong đó, tương ứng với hướng Bắc sẽ là Nhâm, Tý, Quý; Tương ứng với hướng Đông Bắc là Sửu, Cấn, Dần; tương ứng với hướng Đông là Thân, Mão, Ất; tương ứng với hướng Đông Nam là Thìn, Tốn, Tỵ; tương ứng với hướng Nam là Bính, Ngọ, Đinh; tương ứng với hướng Tây Nam là Mùi, Khôn, Thân; tương ứng với hướng Tây là Canh, Dậu, Tân; tương ứng với hướng Tây Bắc là Tuất, Càn, Hợi. Công dụng của tầng thứ năm này là để xác định hướng núi. Hướng nước thay đổi giúp đáp ứng được điều kiện khí hậu của 24 tiết khí (một năm có 24 tiết khí: thanh minh), giúp thăm dò được 24 sơn hướng.
–   Tầng thứ sáu, 24 tiết khí: 24 tiết khí này bắt đầu từ góc phía Đông Bắc ở trên Thiên bàn, thuận theo chiều kim đồng hồ là: Lập Xuân, Vũ Thủy (vào ngày 18, 19 hoặc 20 tháng 2), Kinh Trập (vào ngày 5, 6 tháng 3), Xuân Phân (vào ngày 20, 21 tháng 3), Thanh Minh(4, 5, 6 tháng 4), Cốc Vũ (ngày 19, 20, 21 tháng 4), Lập Hạ (ngày 5, 6, 7 tháng 5), Tiểu Mãn (ngày 20, 21, 22 tháng 5), Mang chủng, Hạ Chí (ngày 21 hoặc 22 tháng 6), Tiểu Thử (ngày 6, 7, 8 tháng 7), Đại Thử (ngày 22, 23, 24 tháng 7), Lập Thu (ngày 7, 8, 9 tháng 8), Xử Thử (22, 23, 24 tháng 8), Bạch Lộ, Thu Phân (ngày 22, 23 hay 24 tháng 9), Hàn Lộ (ngày 8, 9 tháng 10), Lập Đông (7 hoặc 8 tháng 7), Tiểu Tuyết (ngày 23 tháng 11), Đại Tuyết, Đông Chí, Tiểu Hàn (ngày 5, 6, 7 tháng 1), Đại Hàn (ngày 20, 21 tháng 1).

–   Tầng thứ bảy, Xuyên sơn 72; Xuyên sơn 72 do 60 thập hoa giáp, tám can và tứ duy tạo thành, gọi là xuyên sơn. Xuyên sơn 72 là Giáp Tý, Bính Tý, Mậu Tý, Canh Tý, Nhâm Tý, Ất Sửu, Đinh Sửu, Kỷ Sửu, Tân Sửu, Quí Sửu, Bính Dần, Mậu Dần, Canh Dần, Nhâm Canh, Giáp Dần, Đinh Mão, Kỷ Mão, Tân  Mão, Quí Mão, Ất Mão, Mậu Thìn, Canh Thìn, Nhâm Thìn, Giáp Thìn, Bính Thìn, Tân Tỵ, Canh Tỵ, Ất Tỵ, Đinh Tỵ, Canh Ngọ, Nhâm Ngọ, Giáp Ngọ, Bính Ngọ, Mậu Ngọ, Tân Mùi, Quí Mùi, Kỷ Mùi, Đinh Mùi, Nhâm Thân, Giáp Thân, Bính Thân, Mậu Thân, Canh Thân, Quí Dần, Giáp Dần, Đinh Dậu, Kỷ Dậu, Tân Dậu, Giáp Tuất, Bính Tuất, Mậu Tuất, Canh Tuất, Nhâm Tuất, Ất Hợi, Đinh Hợi, Kỷ Hợi, Tân Hợi, Quí Hợi, cộng thêm mươi hai ô trống nữa đại diện cho tám can, tứ duy. Phong thủy học cho rằng, nếu Nhâm sơn chỉ có thể ở Quí Hợi, Giáp Tý, Tý sơn chỉ có thể ở Bính Tý, Canh Tý, nếu như sơn nằm ở ô trống của tám can tử duy, là hung.
–   Tầng thứ tám, trong kim chính phân kim. Trong 24 sơn của kim chính, mỗi sơn thiết lập 5 vị trí, tổng cộng có 120 vị trí, gọi là phân kim. Phân kim trong chính kim bắt đầu từ chính phương bắc có 48 vị trí như: Bính Tý, Canh Tý, Bính Tý, Canh Tý, Đinh Sửu, Tân sủu, Đinh Sửu, Tân Sửu, Bính Dần, Canh Dần, Bính Dần, Canh Dần, Đinh Mão, Tân Mão, Đinh Mão, Tân Mão, Bính Thìn, Canh Thìn, Bính Thìn, Canh Thìn, Đinh Tỵ, Tân Tỵ, Đinh Tỵ, Tân Tỵ, Bính Ngọ, Canh Ngọ, Bính Ngọ, Canh Ngọ, Đinh Mùi, Tân Mùi, Đinh Mùi, Tân Mùi, Bính Thân, Canh Thân, Bính Thân, Canh Thân, Đinh Dậu, Tân Dậu, Đinh Dậu, Tân Dậu, Bính Tuất, Canh Tuất, Bính Tuất, Canh Tuất, Đinh Hợi, Tân Hợi, Đinh Hợi, Tân Hợi, ngoài ra cộng thêm 72 ô trống nữa, tổng cộng có 120 vị trí.
–   Tầng thứ chín, trung bàn Nhân kỉ 24 vị trí: Trung bàn nhân kỉ 24 vị trí, còn được gọi là trung kim Nhân bàn. Thuật phong thủy cho rằng, tiên hữu thiên địa (đầu tiên thì có trời đất), hậu hữu nhân (sau thì có con người). Nhân bàn thời cổ nằm ở giữa Thiên bàn và Địa bàn. Giờ Tý Ngọ thì ở chính giữa giờ Nhâm Tý và Bính Ngọ trong Nhân bàn này. Trung bàn Nhân kỉ 24 vị trí này là dùng Địa chi đan xen với tám can, cộng thêm Càn, Khôn, Tôn, Cấn nằm ở 4 phương nữa, tạo thành 24 vị trí. Theo sự sắp xếp trật tự chiều kim đồng hồ sẽ là: Tý, Quí, Sửu, Cấn, Dần, Thân, Mão, Ất, Thìn, Tôn, Tỵ, Bính, Ngọ, Đinh, Mùi, Khôn, Thân, Canh, Dậu, Tân, Tuất, Càn, Hợi, Nhâm. Sự sắp xếp này vừa đúng với 24 vị trí địa kỉ ở tầng thứ năm.
–   Tầng thứ mười, giống như tầng thứ tám, trong sắp xếp thì lệch về bên phải mở ra hai ô.
–   Tầng thứ mười một, thấu địa 60 long: Kí hiệu thay cho thấu địa 60 long này là 60 hoa giáp, 60 hoa giáp này nằm phương Tây Bắc, theo chiều kim đồng hồ, lần lượt là: Giáp Tý, Bính Tý, Mậu Tý, Canh Tý, Nhâm Tý, Ất Sửu, Đinh Sửu, Kỷ Sửu, Tân Sửu, Quí Sửu, Bính Dần, Mậu Dần, Canh Dần, Nhâm Dần, Giáp Dần, Đinh Mão, Kỷ Mão, Tân Mão, Quí Mão, Ất Mão, Mậu Thìn, Canh Thìn, Nhâm Thìn, Giáp Thìn, Bính Thìn, Kỷ Tỵ, Tân Tỵ, Quí Tỵ, Ất Tỵ, Đinh Tỵ, Canh Ngọ, Nhâm Ngọ, Thân Ngọ, Bính Ngọ, Mậu Ngọ, Tân Mùi, Quí Mùi, Ất Mùi, Đinh Mùi, Kỷ Mùi, Nhâm Thân, Giáp Thân, Bính Thân, Mậu Thân, Canh Thân, Quí Dậu, Ất Dậu, Đinh Dậu, Kỉ Dậu, Tân Dậu, Giáp Tuất, Bính Tuất, Mậu Tuất, Canh Tuất, Nhâm Tuất, Ất Hợi, Đinh Hợi, Kỉ Hợi, Tân Hợi, Quí Hợi. Thuật phong thủy cho rằng, thấu như ống thổi tro, bụi, khí do lỗ thủng thoát ra. Ngũ khí vận động ở trong lòng đất, phát sinh ra vạn vật. Trong lòng đất có khí lành, đất theo đó mà nổi lên. Trong đất cất giấu sự tốt xấu của khí, có thể nhìn thấy qua bề ngoài của đất. Khí mạnh thì đất sẽ theo đó mà gồ cao, khí yếu thì đất sẽ theo đó mà xuống thấp, khí mà trong xanh thì đất theo đó sẽ thanh mĩ, còn khí mà đục thì đất theo đó sẽ xấu. Thuật phong thủy có những cách giải thích không giống nhau đối với 60 long. Nếu như thấu đạt đến Giáp Tý sơn hướng, thì cho rằng con người sẽ bị bệnh tật; thấu đạt đến Bính Tý, cho rằng sẽ phú quý song toàn,… Trên thực tế cũng có cách nói gần như vậy.
–   Tầng thứ mười hai, khẩu quyết: Ô của khẩu quyết lại vừa đối khớp với ô của thấu địa 60 long, chính là sự giải thích về phối hợp Thấu địa 60 long đối với sự lành dữ. Khẩu quyết ghi ra trên la bàn chỉ là mấy chữ phía trước của mỗi câu trong bài. Bài khẩu quyết theo chiều kim đồng hồ, đối ứng từ ô Giáp Tý ở phía Tây Bắc là: thất Nhâm tam Hợi, chính Nhâm, ngũ Tý Nhâm, chính Tý, tam Quí thất Tý, thất Quí tam Tý, chính Quí, ngũ Sửu Quí, chính Sửu, tam Cấn thất Sửu, thất Cấn tam Sửu, Nhâm Cấn, ngũ Dần Cấn, chính Dần, tam Giáp thất Dần, thất Giáp tam Dần, chính Giáp, ngũ Mão Giáp, chính Mão, tam Ất thất Mão, thất Ất tam Mão, chính Ất, ngũ Thìn Ất, chính Thìn, tam Tốn thất Thìn, thất Tốn tam Thìn, chính Tốn, ngũ Tỵ Tốn, chính Tỵ, tam Bính thất Tỵ, thất Bính tam Tỵ, chính Bính, ngũ Ngọ Bính, chính Ngọ, tam Ngọ thất Đinh, thất Đinh tam Ngọ, chính Đinh, ngũ Mùi Đinh, chính Mùi, tam Khôn thất Mùi, thất Khôn tam Mùi, chính Khôn, ngũ Thân Khôn, chính Thân, tam Canh thất Thân, thất Canh tam Thân, chính Canh, ngũ Dậu Canh, chính Dậu, tam Tân thất Dậu, thất Tân tam Dậu, chính Tân, ngũ Tuất Tân, chính Tuất, tam Càn thất Tuất, thất Càn tam Tuất, chính Càn, ngũ Hợi Càn, chính Hợi, tam Nhâm thất Hợi.

Phương Pháp Sử Dụng La Bàn Đúng Cách Trong Phong Thủy Học
Phương Pháp Sử Dụng La Bàn Đúng Cách Trong Phong Thủy Học

–   Tầng thứ mười ba, mười hai “thứ”: Người xưa dựa vào đường đi của mặt trời theo chiều từ Tây sang Đông trong một ngày (mặt phẳng Hoàng đạo) phân thành 12 “thứ”: Tinh kỷ, Huyền hiêu, Tưu ti, Giáng lâu, Đại lương, Thực chẩm, Bột thủ, Bột hỏa, Bột vĩ, Thọ tinh, Đại hỏa, tích Mộc. Người xưa cho rằng mỗi năm có một thứ sao. Giả dụ, một năm bất kỳ, Tuế tinh chuyển động đến phạm vi của Kỷ tinh, năm này sẽ được ghi là “tuế tại Kỉ tinh”, năm tiếp theo chuyển đến phạm vi của Huyền hiêu, thì ghi là “tuệ tại Huyền hiêu”, còn lại sẽ do 10 “thứ” suy ra, cứ 12 vòng mà lặp lại từ đầu. Nên trên la bàn có 12 “thứ”. Khoảng cách giữa hai “thứ” là “chi thứ”, “Tinh kỷ” khởi từ góc Đông Bắc của la bàn theo chiều kim đồng hồ lần lượt là: Tinh kỷ, Chi thứ, tích Mộc, Chi thứ, Đại hỏa, Chi thứ, Thọ tinh, Chi thứ, Bột vĩ, Chi thứ, Bột hỏa, Chi thứ, Bột thủ, Chi thứ, Thực chẩm, Chi thứ, Đại lương, Chi thứ, Giáng lâu, Chi thứ, Tưu ti, Chi thứ, Huyền hiêu.
–   Tầng thứ mười bốn, 12 ranh giới: Vào thời Xuân Thu Chiến quốc, mọi người căn cứ vào khu vực trên đất để phân định những chòm sao trên trời, phân biệt chòm sao trên trời với các châu ở dưới đất, làm cho các chòm sao đối ứng với các châu. Mỗi một chòm sao nào đó sẽ là ranh giới của mỗi một châu nào đó. Đây chính là cái gọi là ranh giới. Giả dụ, ranh giới chòm sao của các nước là:

SaoCác nướcSaoCác nước
Giác CangTrịnhKhuê LâuLỗ
Đê Phòng TâmTốngVị Mão TấtNgụy
Vĩ CơYênChủy SâmTriệu
Đẩu NgưuViệtTỉnh QuỷTần
NữNgôLiễu Tinh TrươngChu
Hư NguyTềDực ChẩnSở
Thất BíchVệ

Ranh giới chòm sao của các châu là:

SaoCác châu
Giác Cang ĐêDuyên châu
Phòng TâmDự châu
Vĩ CơU châu
ĐẩuHồng hồ
Ngưu NữDương châu
Hư NguyThanh châu
Thất BíchTịnh châu
Khuê Lâu VịĐồ châu
Mãn TấtDực châu
Chủy Sâmích châu
Tỉnh QuỷUng châu
Liễu Tinh TrươngTam hà
Dực ChấnKinh châu
Phương Pháp Sử Dụng La Bàn Đúng Cách Trong Phong Thủy Học
Phương Pháp Sử Dụng La Bàn Đúng Cách Trong Phong Thủy Học

Trong la bàn, 12 nước cộng thêm một chữ phân, ví dụ như Tề là Tề phân, Yên là Yên phân… Trong quá trình sắp xếp, đan xen giữa 12 nước và 12 châu về ranh giới, từ đó phân thành 24 ô bắt đầu từ góc Đông Bắc theo chiều kim đồng hồ là: Ngô Việt, Dương châu, Yên phân, u châu, Tông phân, Dự châu, Trịnh phân, Duyên châu, Sở phân, Kinh châu, Chu phân, Tam hà, Tần phân, Ung châu, Tấn phân, ích châu, Triệu phân, Dực châu, Lỗ phân, Từ châu, Vệ phân, Biện châu, Tề phân, Thanh châu.
–   Tầng thứ mười lăm, Ngoại bàn Phùng kim: Tý ngọ của tầng một chỉ vừa đúng vào giữa của Tý và Quý, Ngọ và Đinh của tầng thứ năm, ngày xưa gọi là phùng kim. Do hướng Nam Bắc của phùng kim dự đoán là hình chiếu của mặt trời, nên ngày xưa người ta gọi là Thiên bàn. Tất cả những dấu hiệu mà ngoại bàn phùng kim sử dụng đều giống với chính kim của tầng thứ năm và trung kim của tầng thứ chín, vẫn là 12 can, 12 chi và Càn, Khôn, Tôn, Cấn. Nhưng về vị trí trong việc sắp xếp, thì lại hướng sang phía Đông một nửa ô so với chính kim của tầng thứ năm, hướng sang đúng một ô so với trung kim của tầng thứ chín. Bắt đầu từ góc phía Đông Bắc sự sắp xếp theo chiều kim đồng hồ là: Tý, Quí, Sửu, Cấn, Dần, Giáp, Mão, Ất, Thìn, Tôn, Tỵ, Bính, Đinh, Mùi, Khôn, Trung, Canh, Dậu, Tân, Tuất, Càn, Hợi, Nhâm.
–   Tầng thứ mười sáu, giống với tầng thứ tám, trong vị trí của việc sắp xếp thì tầng thứ mười sáu chếch hai ô nhỏ về hướng Đông so với tầng thứ tám.
–   Tầng thứ mười bảy, giống với tầng thứ mười một, nhưng trong vị trí của cách sắp xếp thì tầng thứ mưòi bảy lệch một giờ nhỏ về hướng Đông so với tầng thứ mười một.
–   Tầng thứ mười tám, Tú độ Ngũ hành. Đây là tầng sử dụng Ngũ hành: Thủy, Hỏa, Kim, Mộc, Thổ, dựa vào sự phối hợp lẫn nhau của nguyên lý tương sinh tương khắc, để ứng với 12 chòm sao trên trời. Tính ra có 59 kí hiệu và hai ô trống, tổng cộng là 61, vừa đúng bằng 2 nhóm, mỗi nhóm 28 chòm sao, và dư 5. tính theo trật tự chiều kim đồng hồ sẽ là: Thủy, Thổ, Thủy, Kim, Mộc, Thổ, Hỏa, Mộc, Hỏa, Kim, Thủy, Mộc, Kim, Thủy, Thổ, Mộc, Hỏa, Thổ, Mộc, Hỏa, Kim, Mộc, Thổ, Hỏa, Kim, Thủy, Thổ, Mộc, Hỏa, Thủy, Kim, Thổ, Thủy, Hỏa, Kim, Thủy, Hỏa, Kim, Mộc, Thổ, Thủy, Thổ, Mộc, Thổ, Kim, Thổ, Thủy, Kim, Hỏa, Mộc, Hỏa, Thổ, Thủy, Mộc, Kim, Thổ, Thủy, Kim.
–   Tầng thứ mười chín, Chu thiên Tú độ. Hai mươi tám chòm sao là cách gọi tổng cộng của người xưa đối với 28 chòm sao vĩnh hằng vòng quanh hoàng đạo và xích đạo một vòng trái đất. Hoàng đạo là hình ảnh mặt trời mà con người trên trái đất nhìn thấy khi nó chuyển động được một vòng quỹ đạo trên cao. Xích đạo chính là vòng tròn bao quanh trái đất và ngăn cách hai cự Nam Bắc của trái đất. Người xưa đã dùng 28 chòm sao coi là độ của một vòng mặt trời, và gọi là Chu thiên Tú độ. Theo những dự đoán trên thực tế, một vòng quay của mặt trời là một độ có 365 ngày và 4 phút, do đó la bàn liền ấn định số độ, tiến hành phân bố 28 chòm sao. Phương vị của 28 chòm sao sẽ là:
Phía Đông 7 chòm sao: Giác, Cang, Đê, Phòng, Tâm, Vĩ, Cơ.
, Phía Bắc 7 chòm sao: Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích.
Phía Tây 7 chòm sao: Khuê, Lâu, Vị, Mão, Tất, Chủy, Sâm.
Phía Nam 7 chòm sao: Tỉnh, Quỷ, Liễu, Tinh, Trương, Dực, Chẩn.
Trên la bàn sẽ dựa vào phương vị của 28 chòm sao để biểu thị vị trí riêng biệt, đồng thời biểu thị rõ số độ. Theo chiều kim đồng hồ sẽ là: sao Bích hơn 9°, sao Thất xấp xỉ 18°, sao Nguy 12°, sao Hư xấp xỉ 9°, sao Nữ 11°, sao Ngưu 7°, sao Đẩu hơn 22°, sao Cơ 9,5°, sao Vĩ 12°, sao Tâm 6°, sao Phòng hơn 5°, sao Đê xấp xỉ 12°, sao Cang hơn 9°, sao Giác hơn 12°, sao Chẩn hơn 12°, sao Dực xấp xỉ 12°, sao Trương hơn 17°, sao Tinh hơn 6°, sao Liễu 13,5°, sao Quỷ 2°, sao Tỉnh xấp xỉ 30°, sao Sâm 9,5°, sao Chủy, sao Tất 16,5°, sao Mão 11°, sao Vị xấp xỉ 15°, sao Lâu hơn 12°, sao Khuê 18°.

Phương Pháp Sử Dụng La Bàn Đúng Cách Trong Phong Thủy Học
Phương Pháp Sử Dụng La Bàn Đúng Cách Trong Phong Thủy Học

THAM KHẢO THÊM ĐỊA LÝ PHONG THỦY

LA BÀN

La bàn còn gọi là La Kinh, có nghĩa là bao la vạn vật, dọc ngang trời đất. Nói chung la bàn có thiên bàn và địa bàn hợp thành. Trên bàn có chia ra chính trâm, phùng trám, trung trâm; chia ra kim bàn, ngân bàn; chia ra nồi bàn và ngoại bàn; chia ra tam bàn : thiên, địa, nhâm. Có thầy phong thủy dùng chính trâm để cách long; có người dùng phùng trâm đo đất, có người dùng phùng trâm lấy hướng.
Địa bàn có hình vuông còn gọi là thác bàn, trên mặt khắc hai đường hình chữ thập, ở giữa đục lõm thành một hình tròn. Thiên bàn hình tròn, mặt dưới hơi lồi, đặt lên hình tròn lõm của địa bàn để có thể xoay tròn. Giữa thiên bàn đặt một chỉ nam châm (kim chỉ nam) hoặc gọi là từ trâm (kim từ), kim trâm (kim vàng), để chỉ phương hướng,
Thiên bàn và Địa bàn tượng trưng trời đất vuông tròn.
Kim chỉ nam thiên bàn nhà phong thủy gọi là chính trám , Hướng mà chính trâm chỉ, trên thực tế không phải là chính Nam, phải đặt thêm phùng trầm, khoảng giữa chính trâm và phùng trâm hình thành góc từ thiên.
Vấn đề mấu chốt trong việc sử dụng la bàn là kim chỉ nam. Nếu muốn biết hướng mộ hoặc hướng nhà, thì đặt la bàn lên bia đá trên mộ, nếu là hướng nhà thì đặt ở giữa ngưỡng cửa hoặc đặt giữa thiên đình. Khi đặt la bàn, trước hết rải gạo dày 3 tấc, đặt la bàn lên rồi ấn xuống để có một mặt phẳng nằm ngang, thu dọn xung quanh, không để kim loại gần la bàn, sau đó dùng nước sạch lau thiên bàn, gạt kim hai hai ba lần để xem kim đều chỉ đúng một hướng – đường Tý Ngọ. Giống như thầy thuốc bắt mạch, nhà phong thủy gọi sự dao đứng của kim chỉ nam là ‘bát kỳ‘. Một là đường, nghĩa là sợ, kim dềnh lên mà không ổn định, không quay về trung tuyến, chứng tỏ dưới đất có cổ bản cổ khí: hai là Đoài, kim xoay ngang, không về Tý Ngọ, chứng tỏ dưới đất có kim loại : ba là Khí nghĩa là không thật, kim quay mà không chịu đứng yên : năm là một, chứng tỏ dưới đất có dụng cụ bằng đồng : sáu là Toại, không thuận, kim dềnh lên và lắc liên tục : bảy là trắc, nghĩa là không đúng vị trí Cần có, lệch về Đông hoặc Tây : tám là chính, nằm đúng trung tuyến. Bảy hiện tượng đầu đều không tốt, chỉ hiện tượng 8 là tốt.hà phong thủy muốn lấy hướng thủy thì xoay vạch đỏ (có khi là vạch trắng) ở chính giữa la bàn (thác bàn) chiếu thẳng vào nơi giao nhau thủy khẩu, rồi xoay bàn tròn sao cho kim trùng với đường (vạch) thiên trì, rồi xem kim chỉ vào chữ gì trên bàn tròn, rồi căn cứ vào lý luận phong thủy mà đoán lành dữ.

Sơ đồ La Bàn 

Nếu phương hướng không thích hợp, thi điều chỉnh la bàn cho đến vị trí cát lợi. Lấy (cách) Long sa, huyệt vị, dựng nhà cửa đều áp dụng phương thức trên.
Các vòng tròn trên bàn tròn có khi đơn giản, có khi phức tạp. Đơn giản nhất là ba tầng, phức tạp là hơn bốn mươi tầng . Mỗi tầng đều có chữ hoặc ký hiệu, đều mang một nghĩa riêng.
Vậy thuật Phong thủy cho rằng, nắm vững la bàn thì trên có thể đo dọc trời, dưới có thể do ngang đất, bao la vạn tượng, cực kỳ tinh vi, có thể thông hiểu âm dương, đoán giải lành dữ, tất biết phuớc biết họa, không có quỉ thần nào mà không bỏ chạy.