Câu đối hay khắc tại đình, chùa, đền, miếu Bắc Trung Bộ

Câu đối hay

Trong văn hóa tâm linh, ngoài việc thờ cúng tổ tiên thì người Việt còn thờ cúng các vị anh hùng dân tộc, thánh, thần tại những nơi như đình, chùa, miếu, đền…Việc thờ cúng ở những địa điểm này mang ý nghĩa khác nhau mà không phải ai cũng hiểu chính xác. Tuy nhiên, dù với mục đích, ý nghĩa ra sao thì đây vẫn là nơi linh thiêng. Đó là nơi mà người sống tưởng nhớ công ơn của những người đã hi sinh để bảo vệ cả dân tộc. Câu đối hay khắc tại những nơi này là minh chứng rõ ràng nhất cho sự tôn kính đó. Cùng tìm hiểu chi tiết hơn trong bài viết sau đây.

Câu đối hay khắc tại đền thờ Khương Công Phụ

Khương Công Phụ là người xã Định Công, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Ông được vua Đường phong chức “Hiệu lang”. Sau đó, ông được thăng dần đến chức “Gián nghị đại phu” rồi “Tể tướng”. Đây là trường hợp rất hiếm gặp trong lịch sử Việt Nam. Một người Việt lại cầm đầu bộ máy cai trị của Trung Hoa.

Sự kiện hai anh em họ Khương cùng đỗ Tiến sĩ và làm quan bên Trung Quốc đã được người đời sau phản ánh trong một câu đối hay như sau: “Nhất triều trung huynh đệ đồng khoa/Thiên tải hạ Bắc Nam khởi kính”. Dịch nghĩa: “Đỗ cao nhất triều anh em cùng khoa/Nghìn năm sau cả Trung Quốc và Việt Nam đều kính trọng”.

Ngày nay, ở thôn Cẩn Cầu, xã Định Thành còn đền thờ Khương Công Phụ. Trước cửa đền có đề ba chữ “Trạng Nguyên Từ” – Đền thờ Trạng nguyên. Đôi câu đối được treo: “Quế hải nhân văn vân phiến ngọc/Phấn hương tướng chỉ bút song phong”. Dịch nghĩa: “Biển quế văn chương sáng ngời như phiến ngọc/Quê tướng công có hai ngọn bút chỉ lên trời”.

Câu đối hay khắc tại Nghè Làng Kiều 

Nghè Làng Kiều được xây dựng từ thời vua Lê Cung Hoàng. Tại đây, tôn ngài Khương Tử Nha – một nhà chính trị, quân sự lỗi lạc giúp Văn vương diệt vua Trụ. Nghè nằm trên khu đất cồn rộng phía Tây Nam làng Kiều. Việc chọn lọc thần hoàng trí tuệ, đề cao học vấn, xây dựng những tư tưởng tiến bộ, tôn vinh việc học…được thể hiện trong câu châm ngôn của địa phương: “Chu Khương Tôn Tử nghè ghi tại/Sử Sỹ phong lưu chiếm đắc nhàn”. Dịch: “Khương Tử Nha Tô Đông Pha Nghè thờ phụng/Nho sinh mới về thành người đỗ đạt”.

Phần trung đường là thần linh được hiện ra thành tượng. Là những vị thần có lai lịch, đó là 3 pho tượng của Khương Tử Nha, Đinh Công Nhân Tín và Đinh Huy Nghiêm, Thần Hoàng làng với những câu đối hay:

“Hoàng triều Đại Việt phong ba Thánh

Cổ lý Tiên Trang hợp nhất từ”

Dịch nghĩa:

“Các vua nước Việt phong ba Thánh

Làng cổ Tiên Trang thờ một Nghè”

Thứ hai:

“Lập đức, lập công dịch dịch năng thanh bất hủ

Vị thần, vị tổ du du linh tích trường tồn”

Dịch nghĩa:

“Tạo đức lập công vời vợi tiếng thơm không ngớt

Là thần là tổ rõ ràng linh tích còn dài”

Thứ ba:

“Thành dân công đức lưu phương viễn

Dịch thế cơ cưu hữu cốc di”

Dịch nghĩa:

“Nên công đức tiếng thơm để mãi

Nối đời nền nếp thóc gạo để về sau”.

Câu đối hay khắc tại đền thờ Bà Triệu 

Đền bà Triệu ở Hậu Lộc – Thanh Hóa thờ Triệu Thị Trinh. Khi ra trận, bà ngồi trên bành voi một ngà trông rất oai phong nên tướng sĩ tôn bà là “Nhụy Kiều tướng quân”. Bà dẫn quân xông pha trận mạc, hữu đột, tả xông oanh liệt khiến giặc Đông Ngô rất khiếp sợ. Chúng bảo nhau: “Hoành qua đương hổ dị/Đối diện bà vương nan”. Tức là: “Múa gươm chống cọp thì dễ/Giáp mặt với vua bà thì thật khó”.

Giặc không dam gọi thẳng tên bà mà gọi là “Lệ Hải Bà Vương”. Nghĩa quân của bà Triệu đánh đâu thắng đó. Khi đến Giao Chỉ, nhân dân nhất tề hưởng ứng. Giặc phương Bắc lo sợ nên sai Lục Dân làm thứ sử Giao Châu, đem tám ngàn quân sang nước ta. Tướng giặc nghĩ ra kế để quân lõa thể khi giáp trận. Bà cho voi lui, giặc lập tức đuổi theo. Vì không muốn rơi vào tay giặc nên bà rút gươm tự sát tại núi Tùng Sơn – Hậu Lộc – Thanh Hóa.

Để ca ngợi công đức của bà Triệu, dân làng Phú Điền đã xây lăng mộ và đền thờ. Câu đối hay ca ngợi công đức của bà được lưu truyền trong dân gian:

“Trông bành voi, Ngô cũng lắc đầu, sợ uy Lệ Hải Bà Vương, những muốn bon chân về Bắc quốc

Ngồi yên ngựa, khách còn hoài cổ, khiếp danh Lạc Hồng nữ tướng, có chăng thẹn mặt đấng nam nhi”

Và:

“Một đầu voi chống chọi với quân thù, sau Trưng nữ rạng danh và Lệ Hải

Ba thước vú tử sinh cùng đất nước, cho Ngô hoàng biết mặt gái Giao Châu”.

Câu đối hay
Câu đối hay khắc tại đền thờ

Câu đối hay khắc tại đền thờ Dương Đình Nghệ

Đền thờ Dương Đình Nghệ tại làng Giàng – Thiệu Hóa – Thanh Hóa. Đây là vị chủ tướng trong trận Đại La năm 931. Ông đã chỉ huy quân đánh bại cuộc xâm lược lần thứ nhất của nhà Nam Hán. Đôi câu đối hay được khắc ở đền thờ ông nhằm ca ngợi và mô tả đầy hào sảng trận thắng này:

“Dưỡng tam thiên nghĩa tử dĩ phục thù, hằng hằng kinh khí

Chưởng bát vạn hùng sư nhi xuất chiến, lẫm lẫm oai thanh”

Dịch nghĩa:

“Nuôi ba nghìn nghĩa tử để phục thù, khí phách kinh hồn

Cầm tám vạn hùng binh mà ra trận, uy danh lừng lẫy”

Câu đối hay khắc tại đền Phúc

Đền Phúc tọa lạc trên địa phận làng Cự Nham – Quảng Nham – Quảng Xương – Thanh Hóa. Một bộ phận lớn dân Cự Nham đến lập nghiệp hành nghề đánh cá ở mỏm đất đã được bồi này. Từ đó nó có tên mới là “Làng mỏm Cự Nham”. Đôi câu đối hay khắc tại nhà thờ trung đường đền Phúc ghi: “Hương hỏa ức niên âm tích Tống/Phong ba nhất trận mặc phù Trần”. Dịch nghĩa: “Hương khói muôn năm nhớ âm hồn người Tống/Bão tố một trận ngầm phù hộ nhà Trần”.

Năm 1285, giặc Nguyên xâm lược nước ta. Vua Trần đã giao cho Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật thống lĩnh thủy quân. Trần Nhật Duật chọn Biện Sơn, Lạch Bạng, Lạch Mom là nơi tập trận và hội quân thủy bộ. Vua Trần cùng thủy thủ đến Lạch Mom. Gió đông, gió nam thổi mạnh, vua Trần lên bờ hội quân thủy bộ. Vua cùng quần thần vào đền Mom dâng hương cầu khấn. Thần nhân ứng nghiệm đã có gió đông. Vua Trần cùng đoàn thủy binh đánh bại quân thủy Toa Đô.

Khi giang sơn thu về một mối, vua Trần giữ lời hứa cấp sắc xây dựng đền Mom to lớn nguy nga. Ngài tự tay tặng các hoành phi câu đối cho đền:

“Xã tắc phát phu bất ư Mông Cổ đồng thiên địa

Xuân thu trữ đậu trường giữ ly thiêng vạn cổ kim”

Dịch nghĩa:

Toàn dân cắt tóc xin thề không đội trời chung với giặc Mông Cổ

Quanh năm cúng giỗ giữ niềm tin trong trời đất muôn đời”.

Câu đối hay tại đền Xuân Phương 

Đền Xuân Phương tọa tại làng Xuân Phương – Quảng Châu – Quảng Xương – Thanh Hóa. Nơi đây thờ nhân vật lịch sử là Nguyễn Phục. Ông quê ở xã Đoàn Tùng – Gia Lộc – Hải Dương. Nguyễn Phục thi đỗ Hoàng giáp đời vua Lê Nhân Tông. Ông làm quan đến chức Hàn Lâm Viện, giữ chức Phi vận tướng quân.

Năm 1467, ông được bổ nhiệm chức Tham chính sứ tại xứ Thanh Hóa. Theo đó, ông có quyền quyết định mọi việc ở xứ Thanh Hóa. Khi vua Lê Thánh Tông đi đánh giặc Chiêm Thành, ông được giao làm Đốc vận quân lương. Do chậm trễ thời gian, quân thiếu lương ăn, nhà vua nghe theo cung nhân xúi giục và khép ông vào tội chết.

Đền thờ ông hiện có đôi câu đối hay như sau:

“Lân giao hữu đạo thanh xuân hiếu

Môn quán vô tư bạch nhật nhàn”

Và:

“Tượng Lĩnh tây hồi chung thọ mạch

Mã giang bác dẫn chấn phong ba”.

Câu đối hay tại đền thờ Đông Hải Đại Vương

Đền thờ Đông Hải Đại Vương – Nguyễn Phục còn có tên gọi là đền thờ quan Hoàng Giáp. Hoặc cũng có tên là đền Đức Thánh Tôn Thần. Ngôi đền này được xây dựng trên khoảng đất ven biển xã Quảng Đại – Quảng Xương – Thanh Hóa. Tước hiệu đầy đủ của Thành Hoàng Nguyễn Phục là “Đông Hải Đại Vương, Uy Linh Hiển Ứng Dực Thánh Hộ Quốc Phù Tộ, Thượng Đẳng Phúc Thần, Bảo An Chính Trực Hựu Thiện Đôn Ngưng, Bảo Dực Trung Hưng, Thành Hoàng Nguyễn Phục”.

Câu đối hay trong đền thờ Đông Hải Đại Vương là:

“Khoa giáp ức niên lưu Việt quốc

Miếu đường thiên cổ lãm thần uy”

Dịch nghĩa:

“Khoa giáp vạn năm lưu nước Việt

Miếu đường nghìn thuở vẫn lẫm liệt uy danh bậc thần”

Và:

“Vạn đại thần từ tồn tại bản

Thiên niên phụng sự phúc phương dân”

Dịch nghĩa:

Vạn đời đèn thờ Thần vẫn tồn tại trong bản xã

Nghìn năm phụng thờ thần để phúc lại muôn dân”.

Câu đối hay khắc tại Nghè Đệ Tứ 

Nghè Đệ Tứ nằm ở địa phận làng Hòa Chúng – Quảng Thọ – Thanh Hóa. Làng có 4 nghè gồm: Nghè Đình Thượng, Nghè Ròng, Thông và Nghè Đệ Tứ. Nghè Đệ Tứ có treo câu đối hay như sau:

“Quần sinh đắc thiên thu vọng

Lạc sự hoan đồng vạn chúng sinh”

Dịch nghĩa:

“Sống quần tụ được ngàn thu trông cậy

Làm việc vui cùng muôn vạn chúng sinh”.

Câu đối ở cột nanh:

“Xa mã vãng lai huyền đại đạo

U minh xuất nhập diện huyền cơ”

Dịch nghĩa:

“Xe ngựa đi về theo đường đạo nghĩa cả

Vào ra sáng tối, kỳ diệu máy then trời”

Và:

“Tế tụng chưng thường thu tổ đức

Lễ tuân chiêu mục trọng nhân luân”

Dịch nghĩa:

“Tế dùng theo phép thông thường, thi hành đức độ tiên tổ

Lễ tháng tuần bên chiêu mục, tôn trọng luân lý con người”.

Câu đối hay
Câu đối hay khắc tại miếu thờ

Câu đối hay khắc tại hai đền Đồng Cổ 

Nếu đứng trên ngọn núi cao nhất của đền Đồng Cổ sẽ nhìn thấy thành nhà Hồ. Chính diện hướng Đông là chùa Dáng. Phía Nam là động Hồ Công – một nơi có phong cảnh đẹp của huyện Vĩnh Lộc. Dưới quán Triều Thiên là chùa Thanh Nguyên. Trong lòng ba quả núi có động Ích Minh xuyên núi ra sông Mã. Phía hữu có hang Nội mát mẻ. Phía Tây có hồ bán nguyệt. Có câu đối khen rằng: “Hồ bán nguyệt lung linh hổ phách/Ấn tam thai giữ mạch long bài”. Và “Sơn trĩ tam thai vân tụ tán/Hồ loan bán nguyệt thủy thăng trầm”.

Nguyễn Văn Giai là một Tam nguyên Hoàng giáp. Ông từng giữ chức Tể tướng, tước Thái Bảo, Quận Công. Ông nổi tiếng chính trực, biết giữ nghiêm pháp luật triều đình. Sau khi ông mất, dân làng Đan Nê phụng thờ ông ở một ngôi nhà phía bên trái đền Đồng Cổ. Năm 2011, dân làng Đan Nê trùng tu đền Phúc nằm ở trung tâm làng. Người dân thờ Nguyễn Văn Giai như vị Thành Hoàng vì ông là vị khai quốc công và nối nền văn hóa của người Đan Nê giữa xưa và nay.

Đền Đồng Cổ có khắc đôi câu đối hay như sau:

“Thiên vi anh, địa vi linh, tất mã giang tây thanh miếu cổ

Thần đương trung, tử đương hiếu, Thăng Long thành Bắc thệ đàn cao”

Trên bia mộ của ông có khắc đôi câu đối do vua Lê Kính Tông ban tặng:

“Quốc thạch trụ tam triều danh tướng

Địa giang sơn vạn cổ phúc thần”

Câu đối hay khắc tại Nghè Sày

Nghè Sày thuộc địa phận làng Bình Hòa – Quảng Châu – Quảng Xương – Thanh Hóa. Nơi đây thờ ông Quản Di Đài thời Lê Trung Hưng. Ông là người từ nơi khác đến, xin làng một khu đất ngụ cư. Dân làng thương tình cho ông một khu đất bỏ hoang toàn cát ở phía Bắc.

Vào khóa thi cuối thời hậu Lê ông đã thi đỗ Tiến sĩ. Trong làng một số quan lại, chức sắc do sĩ diện với quê hương nên tỏ ý đố kỵ, ghen ghét, coi thường ông. Họ đã bày ra trò đem ghế nhổ mạ ra làm kiệu khênh, lọng bằng nón sổ vành, cờ bằng khố cho làng đi trước.

Thấy cảnh trái ngang, nghĩ rằng dân làng miệt thị mình, quá uất hận nên ông đã tự vẫn. Hiện nay, trong nghè nơi thờ ông có đề cập đến việc ông là Tiến sĩ được gọi là ông Nghè. Nội dung câu đối như sau:

“Tiến sĩ tôn ông thiên cổ tại

Quan nghè tưởng niệm quốc gia phong”

Dịch nghĩa:

“Quý ông tôn quý đỗ Tiến sĩ nghìn năm vẫn ở chốn này

Tưởng niệm về quan nghè được đất nước phong tặng”.

Câu đối hay khắc tại đình làng Bồng Trung 

Làng Bồng Trung – Vĩnh Lộc – Thanh Hóa có dân sinh sống từ đầu thế kỷ XV. Dưới triều vua Đồng Khánh đổi tên làng Đông Biện là làng Bồng Trung. Làng này có ngôi đình 5 gian thuộc loại đình to. Một số câu đối hay được khắc tại đình:

“Tụ thành ấp, hữu nho gia, hữu nông gia, hữu thương gia, Lam Điền ước tứ

Thăng ư hương, vi tú sĩ, vi tiến sĩ, vi tạo sĩ, Chu lễ tân tam”

Dịch nghĩa:

“Tụ thành ấp, có nhà nho, nhà nông, nhà buôn, giàu có gấp bốn lần vùng Lam Điền

Tiến lên lập làng, làm nên tú sĩ, tiến sĩ, tạo sĩ, có văn hiến lễ nghĩa gấp ba lần nhà Chu”

 

“Sinh khí thủy ư Đông thập nhật hạng phồn du đô thị

Thái bình nghi cư Biện tứ bách niên văn hiến vu tư”

Dịch nghĩa:

“Sinh khí tốt lành xuất phát từ phương Đông, mười một xóm của quê hương vui như thành thị

Thái bình nên tụ cư về đất Biện có bốn trăm năm văn hiến”

 

“Bách niên tượng mã am quy bộ

Tứ cố giang sơn nhập họa đồ”

Dịch nghĩa:

“Trăm năm voi ngựa qua lại đường làng

Bốn mặt núi sông như chầu về làng”.

Câu đối hay khắc nhà thờ lương y Minh Từ

Nhà thờ lương y Minh Từ ở thôn Tân Thượng – Quảng Xương – Thanh Hóa. Nhà thờ này thờ lương y Cao Văn Tân – Người được vinh danh là “Danh nhân đất nước, quê hương”. Tại nhà thờ lương y Minh Từ, các bức đại tự, hoành phi câu đối được bố trí ở 3 nơi: Cổng nhà thờ, cửa nhà thờ và trong nhà thờ. Phía trên cổng, chính giữa có tên nhà thờ lương y Minh Từ, 2 cột ngoài cùng đắp nổi đôi câu đối hay:

“Đất mẹ có sen, sen mãi thắm

Trời quê ươm nắng, nắng luôn tươi”

Hai cột giữa nhà thờ treo câu đối:

“Phụ tử lương y kế thiên niên quảng nghiệp

Nhi tôn đức dược truyền vạn đại lưu cơ”

Nghĩa:

“Cha con, cháu chắt nối tiếp nhau lưu truyền, quảng bá sự nghiệp lương y, đức dược

Con cháu phải luôn tu dưỡng, phấn đấu để giữ gìn y đức, y đạo, y thuật, kế thừa, phát huy truyền thống “Lương y như từ mẫu” của tổ tiên”.

Câu đối của Cao Bá Quát khắc phía trong cột cổng nhà như sau:

“Kinh thế hữu tài giai bách luyện

Độc thư vô tự bất thiên kim”

Nghĩa là:

“Có tài giúp ích cho đời đều phải trải qua trăm lần tôi luyện gian khổ

Đọc sách hay, sách tốt thì chữ nào cũng quý như ngàn vàng”.

Câu đối hay
Câu đối hay khắc tại nhà thờ

Câu đối hay khắc tại lăng mộ Nguyễn Trường Tộ

Nguyễn Trường Tộ còn được gọi là Thầy Lân. Ông sinh tại làng Bùi Chu – Hưng Nguyên – Nghệ An. Trí tuệ lỗi lạc của Nguyễn Trường Tộ đã vượt hẳn lên tầm thời đại, lúc đó là giữa thế kỷ 19 ở Việt Nam. Ông mất tại làng quê Bùi Chu năm 1871. Bia đá và lăng thờ ông được xây vào năm 1943 tại Hưng Trung – Hưng Nguyên.

Trên bia đá ghi chép tiểu sử Nguyễn Trường Tộ có hai câu đối hay bằng chữ Hán như sau:

“Trung quân chính sách quang tiền sử

Ái quốc tinh thần khởi hậu nhân”

Hai câu đối chữ Hán ở lăng Nguyễn Trường Tộ như sau:

“Nhất thất túc thành thiên cổ hận

Tái hồi đầu thị bách niên cơ”

Dịch nghĩa:

“Một lần không thành công, để hận cho mãi mãi

Quay đầu nhìn trở lại, cơ đồ mất trăm năm”.

Câu đối hay khắc tại đền Bạch Mã

Đền Bạch Mã nằm trên địa bàn thôn Tân Hà – Thanh Chương – Nghệ An. Đền này được lập để thờ danh tướng Phan Đà, người thôn Chi Linh. Ông là một trong những người đã có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Minh ở thế kỷ XV. Phía trước cổng được đắp hình 2 voi chiến và 2 quản voi. Hai bên mặt đối diện cột ghi 2 câu đối được dịch là:

“Trời rung đất chuyển công lao vĩ đại, triều đình khen thưởng khí sắc phong

Nước biếc non xanh, chuông thật linh thiêng, vũ trụ khua vang yên cảnh phúc”

Câu đối khác có nội dung sau:

“Phù quốc lộ ư La Thành, vạn cổ uy thanh truyền mã tích

Ngật tôn từ vu giang tứ, thiên thu vượng khí trấn Long Biên”

Dịch nghĩa:

“Giúp nước thịnh ở La Thành, muôn thuở uy danh truyền dấu ngựa

Bến sông nước, nghìn năm vượng khí giữ Long Biên”.

Câu đối hay khắc tại đền Bạch Mã

Trên đây, làng nghề Cát Đằng đã chia sẻ về những câu đối hay được khắc tại đình, chùa, đền, miếu khu vực Bắc Trung Bộ. Hi vọng, những chia sẻ trên sẽ giúp ích khi bạn muốn tìm kiếm thông tin có liên quan./.