139 lượt xem

Tứ Linh trong quan niêm của người Việt

Tứ Linh trong quan niêm của người Việt.

Tứ linh vật bao gồm Long – Lân – Quy – Phụng. Theo quan điểm Trung Quốc là đại diện của 4 vị thần 4 phương là Thanh Long, Bạch Hổ, Huyền Vũ, Chu Tước của Trung Hoa. Mỗi loài linh vật đều mang ý nghĩa phong thủy riêng.

Hình tượng tứ linh được sử dụng và khắc họa khá phổ biển trong nghệ thuật kiến trúc Việt Nam từ kinh đô, đền chùa cho đến nhà dân như một hiện trạng sống động của 4 linh vật này trong tâm thức người Việt. Các vật phẩm khắc tứ linh đều có độ khó và độ tinh xảo cao do phải khắc họa tới 4 hình tượng trên một vùng không gian nhỏ. Hơn nữa các linh vật này đều có những chi tiết đòi hỏi phải được khắc họa chính xác nên thời gian thực hiện những sản phẩm này cũng lâu hơn và giá trị cũng cao hơn rất nhiều.

Long – Rồng – Đứng đầu trong tứ linh.

Rồng trong truyền thuyết được coi là con vật của trời, có quyền năng tối cao hơn các loài vật khác. Sự xuất hiện của Rồng được quan niệm là mang lại điều tốt lành, may mắn, thuận lợi và bình an. Nhân dân xưa quan niệm rồng là sứ giả để con người có thể gửi gắm những ước nguyện của cuộc sống như cầu mưa thuận gió hòa, cầu phồn thực…

Rồng là con vật đứng đầu trong tứ linh, Rồng đại diện cho quẻ Chấn, mang lại Dương khí, sự quật khởi, ý chí, công danh, tài lộc và quyền lực. Do đó trên quần áo của vua chúa và hoàng tộc thường có thêu hình rồng bằng vàng để thể hiện thiên mệnh con trời có quyền lực tối cao. Dân tộc Việt Nam ta đã có truyền thuyết về rồng từ rất sớm vì nó gắn liền với mây và mưa với tryền thống trồng lúa nước lâu đời, ruyền thuyết “Còn Rồng Cháu Tiên” và đặc biệt là in đậm vào tâm thức người Hà Nội với cái tên Thăng Long, Vịnh Hạ Long, Sông Cửu Long. Không những là biểu tượng cho xuất xứ nòi giống dân tộc Việt Nam, rồng còn là thần linh, chủ của nguồn nước, mang lại sức sống mãnh liệt, làm cho mùa màng tốt tươi.

Rồng qua các thời kỳ lịch sử.

Qua thời kỳ Bắc thuộc dài đằng đẵng, con rồng Việt Nam xuất hiện rõ nét dưới thời Lý. Hình ảnh “Rồng bay lên” Thăng Long tượng trưng cho khí thế vươn lên của dân tộc, được đem đặt cho đất đế đô. Rồng thời Lý tượng trưng cho mơ ước của cư dân trồng lúa nước nên luôn luôn được tạo trong khung cảnh của nước, của mây cuộn.

Triều Lý dựng đô, vua Thái Tông cho mở hàng quán chen chúc sát tới đền rất huyên náo. Vua thấy đền cổ bèn sửa sang lại làm nơi thờ thần. Đến đêm, thần hiển linh nổi trận gió Bắc rất to, các nhà bên đều đổ hết, chỉ còn đền thờ. Vua mừng nói: “Đó là thần Long Đỗ coi việc nhân gian”. Hình Rồng thời Lý được trang trí ẩn hiện trong hình lá đề, cánh sen giỡn sóng, ở bệ tượng đức Phật Adiđà, Quan Âm… Rồng thời Lý có thân hình tròn trặn, uốn lượn nhiều khúc, dài và nhỏ dần về phía đuôi, có dáng dấp gần gũi với loài rắn nhưng đầu Rồng có tỷ lệ cân đối so với thân, chân nhỏ, mảnh, thường là 3 ngón. Rồng thời Lý nhẹ nhàng, thanh thoát. Những khúc uốn hình chữ S gần như không thể thiếu. Rồng được trang trí trong chùa tháp, cung điện có đầu ngẩng cao, mồm há rộng giỡn ngọc, mào hình ngọn lửa hướng về phía trước, tai bờm, râu rồng vút nhỏ dần chuyển động như bay lượn tạo nên bố cục chặt chẽ. Nhìn tổng thể, Rồng Lý tạo ra vẻ đẹp thẩm mỹ thuần khiết, cách điệu sống động như một tuyên ngôn độc lập có giá trị đến ngày nay về mỹ thuật của Rồng Đại Việt.

Rồng thời Trần tuy có thừa kế những yếu tố cơ bản của thời Lý nhưng đã có những biến đổi về chi tiết. Dạng tự chữ “S” dần dần mất đi hoặc biến dạng thành hình con, đồng thời xuất hiện thêm hai chi tiết là cặp sừng và đôi tay. Đầu rồng uy nghi và đường bệ với chiếc mào lửa ngắn hơn. Thân rồng tròn lẳn, mập mạp, nhỏ dần về phía đuôi, uốn khúc nhẹ, lưng võng hình yên ngựa. Đuôi rồng có nhiều dạng, khi thì đuôi thẳng và nhọn, khi thì xoắn ốc. Các vảy cũng đa dạng. Có vảy như những nửa hình hoa tròn nhiều cánh đều đặn, có vẩy chỉ là những nét cong nhẹ nhàng.

Rồng thời Lê thay đổi hẳn. Rồng không nhất thiết là một con vật mình dài uốn lượn đều đặn nữa mà ở trong nhiều tư thế khác nhau. Đầu rồng to, bờm lớn ngược ra sau, mào lửa mất hẳn, thay vào đó là một chiếc mũi to. Thân rồng lượn hai khúc lớn. Chân có năm móng sắc nhọn quắp lại dữ tợn. Rồng thời Lê tượng trưng cho quyền uy phong kiến. Cũng chính bắt đầu từ thời đại này xuất hiện quan niệm tứ linh (bốn con vật thiêng) tượng trưng cho uy quyền của vương triều Rồng đứng đầu trong tứ linh. Ba vật thiêng kia là Lân (tượng trưng cho sự thái bình và minh chúa), Quy (con rùa – tượng trưng sự bền vững của xã tắc) và Phụng (tượng trưng cho sự thịnh vượng của triều đại).

Rồng thời Trịnh Nguyễn vẫn còn đứng đầu trong bộ tứ linh nhưng đã được nhân cách hóa, được đưa vào đời thường như hình rồng mẹ có bầy rồng con quây quần, rồng đuổi bắt mồi, rồng trong cảnh lứa đôi.

Con rồng thời Nguyễn trở lại vẻ uy nghi tượng trưng cho sức mạnh thiêng liêng. Rồng được thể hiện ở nhiều tư thế, ẩn mình trong đám mây, hoặc ngậm chữ thọ, hai rồng chầu mặt trời, chầu hoa cúc, chầu chữ thọ… Phần lớn mình rồng không dài ngoằn mà uốn lượn vài lần với độ cong lớn. Đầu rồng to, sừng giống sừng hươu chĩa ngược ra sau. Mắt rồng lộ to, mũi sư tử, miệng há lộ răng nanh. Vảy trên lưng rồng có tia, phân bố dài ngắn đều đặn. Râu rồng uốn sóng từ dưới mắt chìa ra cân xứng hai bên. Hình tượng rồng dùng cho vua có năm móng, còn lại là bốn móng.

Hình tượng Rồng còn huyền bí về long mạch, thuyết phong thủy nơi đất phát đế vương mộ táng. Chuyện mộ táng hàm Rồng, chúa Trịnh phát tích, sách Trung Hưng Thực Lục viết: “Ông già Tống Sơn giỏi phong thủy thấy Trịnh Liễu cầy ruộng lại siêng học hành, đức hạnh bèn giúp đặt mộ nơi huyệt khí quý xứ Nanh Lợn. Đêm ấy trời đất chuyển động, mưa gió nổi to… trên mộ có vầng sáng ánh trăng, xa trông có Rồng đen ấp lên trên. Tống Vương nói: “Rồng vàng là đế, rồng đen là vương…”. Quả nhiên, đến 4 đời sau thì nhà Trịnh phát vượng…”.

Rồng tượng trưng cho sự phồn vinh và sức mạnh của dân tộc, nhanh chóng trở thành hình tượng biểu hiện uy quyền của Nhà nước phong kiến, chỉ dùng nơi trang trọng nhất của cung vua, hay những công trình lớn của quốc gia. Đã có thời triều đình phong kiến chạm khắc hình rồng trên nhà cửa hay đồ dùng gia đình. Nhưng sức sống của con Rồng còn dẻo dai hơn khi nó vượt ra khỏi kinh thành, đến với làng quê dân dã. Nó leo lên đình làng, ẩn mình trên các bình gốm, cột đình, cuộn tròn trong lòng bát đĩa hay trở thành người gác cổng chùa. Rồng còn có mặt trong những bức tranh hiện đại phương Đông, biểu hiện một mối giao hòa giữa nền văn hóa xa xưa bằng những ý tưởng mới mẻ kỳ lạ. Rồi con Rồng lại trở về với niềm vui dân dã trên chiếc bánh trung thu của mọi nhà.

Quả thật, hình tượng Rồng rất thân thiết trong tâm thức người dân Việt Nam. Các triều đại vua chúa xưa đưa múa Rồng truyền thống trở thành loại hình múa nghệ thuật (múa tứ linh Lê-Trịnh). Rồng trong đời sống dân gian được thể hiện rất phong phú: có múa Rồng trên sân đình trong lễ hội, trò chơi trẻ con Rồng rắn lên mây, hình ảnh Rồng xuất hiện

Rồng thực chất không phải là một con vật có thật mà là sản phẩm của tưởng tượng, nghệ thuật và niềm tin mãnh liệt. Hình tượng của rồng bao gồm sự kết hợp của các loài: thân rắn, đùi thằn lằn, móng vuốt của chim ưng, đuôi rắn, sừng hươu, vẩy cá. Không thể xác định chính xác tại sao lại có hình tượng con rồng được khắc họa hoàn chỉnh như vậy có một lý giải tương đối hợp lý được đưa ra đó là khi Hoa Hạ thống nhất các bộ tộc Trung Nguyên đã kết hợp Linh Vật tổ của mình với linh vật của các bộ tộc khác tạo thành Giao Long và Rồng được phát triển dựa trên hình tượng Giao Long này.

Rồng không phải loài vật có thật  nhưng hình tượng rồng lại được miêu tả hết sức chi tiết: thân rắn, đùi thằn lằn, móng vuốt của chim ưng, đuôi rắn, sừng hươu, vẩy cá.  Rồng đóng vai trò quan trọng với người Việt Nam, đại diện cho ngành nông nghiệp lúa nước do đó có nhiều điểm khác biệt so với rồng Trung Quốc.

–          Thân Rồng uốn hình Sin gồm 12 khúc tượng trưng cho 12 tháng trong năm. Sự uốn lượn mềm mại và nhấp nhô của rồng thể hiện khả năng biến đổi thời tiết, thiên nhiên và mùa màng.

–          Đầu rồng là nét khác biệt lớn nhất, Đầu rồng có bờm dài, râu cằm, không sừng. Mắt lồi to, hàm mở rộng có răng nanh ngắt lên, đây là điểm hoàn toàn khác với các con rồng khác của các nước. Đặc biệt là cái mào ở mũi, sun sóng đều đặn chứ không phải là cái mũi thú như rồng Trung Hoa. Lưỡi mảnh rất dài

–          Miệng rồng ngậm Minh châu, Rồng ở các nước giữ ngọc bằng móng vuốt trước. Viên Châu tượng trưng cho tính nhân văn, trí thức và lòng cao thượng.  Đầu Rồng luôn ngước lên thể hiện ý chí nhân văn cao.

Lân- đứng thứ 2 trong tứ linh.

Là linh vật được biết đến thứ 2 sau Rồng, dân gian cho rằng sự xuất hiện của Lân báo hiệu điểm lành, thái bình thịnh vượng sắp tới. Ngoài ra hình tượng Lân cũng được dùng để trấn giữ cửa nhà, hóa giải hung khí khi đối diện với cửa nhà khác, bị ngã ba, ngã tư, góc nhọn, đường vòng chiểu thẳng vào nhà.

Truyền thuyết cho rằng, Lân ban đầu là một loài quái thú từ dưới biển lên bở phá hoại mùa màng vật chất không cho con người làm ăn. Do đó Đức Phật Di Lặc đã hóa thân thành ông địa và thuần phục được thú dữ, biến Lân thành một con thú lành thường xuyên giúp đỡ người tốt, đặc biệt là những người hiếu thảo, biết làm việc thiện nên ngoài tên gọi là Lân còn được gọi là Nhân thú tức là con thú làm việc thiện. Sau  này cứ vào mỗi mùa tết và trung thu Ông địa lại đưa Lân xuống múa mua vui và thăm hỏi mọi người. Ông Địa và con lân đi đến đâu là giáng phúc tới đó nên nhà nào cũng hoan hỉ treo rau xanh và giấy đỏ đón chào. Sau này, người có tiền thường treo giải bằng tiền buộc trong một miếng vải đỏ, treo cùng bắp cải hoặc rau xanh.

Lân là con cái, con đực gọi là Kỳ nên được gọi chung là kỳ lân. Lân có dung mạo kì dị và cũng là một sản phẩm từ trí tưởng tượng nghệ thuậtcủa con người mà ra. Lân là con Vật đầu nửa rồng nửa thú, thuộc loài nai, mình vằn, đuôi giống như đuôi trâu trên đầu thường có 1 sừng.  Thân kỳ Lân giống Hươu nhưng có vảy khắp người, chỉ ăn cỏ và  thần thái vô cùng sinh động. Vì là một loài thú lành tình chuyên giúp người tốt và đuổi cắn người xấu nên mỗi khi Kỳ Lân xuất hiện là báo hiệu của một thánh nhân sắp xuất hiện cứu giúp dân chúng.

Kỳ lân là loài vật chuyên bảo vệ và canh giữ cửa ngôi nhà, miệng há to thu hút và trấn áp mọi loại hung khí vào nhà.Vì vậy, trong mỗi đình chùa ta thường thấy có tượng hai con kỳ lân đá canh cửa. Trong Phong Thuỷ, tượng kỳ lân thường dùng trấn giữ cửa nhà, hoá giải hung khí chiếu tới khi đối diện với của nhà khác, bị ngã ba, ngã tư, đường vòng, hoặc góc nhọn chiếu vào cửa nhà.

Quy – Linh vật có thật trong tứ linh.

Quy (Rùa) là con vật duy nhất có thật trong tự nhiên. Rùa là một loài bò sát lưỡng cư có tuổi thọ cao và khả năng sống trong một thời gian mà không cần tới thức ăn do đó được ví với tinh thần thanh cao, thoát tục. Rùa từ lâu đã gắn liền với văn hóa người Việt thông qua câu chuyện thần Kim Quy giúp vua An Dương Vương xây và bảo vệ thành Cổ Loa.

Rùa tượng trưng cho sự trường tồn bất diệt, hình ảnh rùa đội bia đá ghi lại sử sách Việt Nam và 82 bia đá ghi tên tiến sĩ đỗ đạt tại Quốc Tử Giám được cho là một cách thể hiện sự tôn kính đối với công ơn của các vị anh hùng, truyền thống uống nước nhớ nguồn, thể hiện tinh thần văn hiến bất diệt của dân tộc ta. Rùa tuy không phải là linh vật trong Phật giáo nhưng sự trường tồn của rùa được gắn liền với sự trường tồn của Phật Giáo. Truyền thuyết kể rằng, An Dương Vương sau khi giết con gái Mị Châu vì tội thông đồng với giặc đã cưỡi lên lưng rùa và đi về phía biển, các nhà nghiên cứu cho rằng hình tượng này khá giống với vị thần Visou tối cao của đạo Bà La Môn.

Trong lĩnh vực tâm linh Quy được xem là hội tụ của trời đất – âm dương : bụng bằng tưởng trưng cho mặt đất (âm), mai khum vòng tượng trưng cho vòm trời (dương). Trong dân gian rùa có nhiều lúc được kết hợp với những con vật khác như rắn (Quy xà hợp thể), hay rùa đầu rồng (long quy) có sự kết hợp của rùa và rồng nên rất linh thiêng.

Hình tượng long quy.

Trong truyền thuyết Long Sinh Cửu Phẩm ( Chín đứa con ) , các phẩm không giống nhau phân biệt như sau : Con lớn là Tù Ngưu thích âm nhạc ; tiếp thứ hai là Nhai Tý háo sát ; ba là Triều Phong thích nguy hiểm ; bốn là Bá Hạ thích Mang vật nặng ; năm là Bệ Ngạn thích tranh cãi ; sáu là Xuy Vẫn thích nuốt mọi vật ; bảy là Thao Thiết thích ăn ; tám là Kim Nghê thích khói lửa ; chín là Bồ Lao thích la hét .

Trong chín con của Rồng duy có con thứ tư là Bá Hạ thích mang vật nặng , ngoại hình của nó giống con rùa , đầu thì giống rồng.

Trong dân gian thì các con rùa lớn linh thiêng cũng được gọi là Long Quy . Trong truyền thuyết cổ của Hồng Kông cũng có nói đến Nữ Oa Nương Nương dùng bốn chân rùa lớn để chống bốn góc trời bị Cung Công húc nghiêng lệch.

Cũng vì Long Quy thích mang vật nặng , ngụ ý giúp con người chống lại Sát khí giảm tai họa , nên Long Quy thường dùng để trấn trạch hưng gia , nó cũng đem lại Phúc Trạch giúp cho cuộc sống tốt hơn .

Phụng (Phượng/Phượng hoàng) – Linh vật bất tử trong tứ linh. 

Phượng hoàng được bắt nguồn từ nền văn hóa của Trung Hoa, được ví là loài chim đẹp nhất trong các loài chim. Phượng hoàng tuy được phân thành Phượng (con trống) và Hoàng (con mái) nhưng về sau không còn sự phẩn biệt rạch ròi như vậy nữa mà các đặc điểm được kết hợp lại với nhau và gọi chung là Phượng Hoàng. Trong nền văn hóa của các nước phương đông, Phượng Hoàng là một trong những linh vật tối cao được cho sánh ngang với Rồng. Phượng hoàng tượng trưng cho vẻ đẹp, sự cao quý, tình yêu thương của người mẹ và ẩn chứa một sức mạnh huyền bí. Do đó Phượng hoàng đại diện cho Hoàng Hậu hay các phi tần sánh bên Rồng đại diện cho Vua.

Phượng hoàng cũng là một linh vật trong truyền thuyết được hình tượng hóa trong đời sống tâm linh. Phượng được miêu tả có mỏ diều hâu dài, tóc trĩ, vảy cá chép , móng chim ưng và đuôi công Với ý nghĩa đầu đội công lý, mắt là mặt trời, mặt trǎng, lưng cõng bầu trời, lông là cây cỏ, cánh là gió, đuôi là tinh tú, chân là đất, vì thế phượng tượng trưng cho cả vũ trụ. Phượng hoàng có ý nghĩa tích cực, nó biểu thị cho đức hạnh, vẻ duyên dáng và thanh nhã. Theo truyển thuyết Phượng hoàng xuất hiện trong thời kỳ hòa bình thịnh vượng do đó người ta thường trưng bày hình tượng Phượng hoàng để hiện quyền lực, sức mạnh và cầu thịnh vượng.

Rồng mang yếu tố dương và tượng trưng cho vua chúa, Phượng hoàng mang yếu tố âm tượng trưng cho hoàng hậu. Âm dương hòa hợp tức là rồng và phượng quấn quýt lấy nhau, do đó hình tượng rồng phượng được người dân Trung Quốc cho là đại diện của hạnh phúc giữa chồng và vợ. Do đó trong các đám cưới tại Trung Quốc người ta thương trang trí hình ảnh rồng phượng để cầu chúc hạnh phúc.

 

Làng nghề Cát Đằng cung cấp thông tin chi tiết về bài viết
Tên bài báo
Tứ Linh trong quan niêm của người Việt
Thông tin mô tả chi tiết
Tứ linh vật bao gồm Long - Lân - Quy - Phụng. Theo quan điểm Trung Quốc là đại diện của 4 vị thần 4 phương là Thanh Long, Bạch Hổ, Huyền Vũ, Chu Tước của Trung Hoa. Mỗi loài linh vật đều mang ý nghĩa phong thủy riêng.
Nhà báo
Bản quyền nội dung
Làng nghề Cát Đằng
Hotline: 0353.247.247
Chat Facebook
Gọi điện ngay