Ý nghĩa chữ “Tâm” trong Phật Giáo

Ý nghĩa chữ "Tâm" trong Phật Giáo

Có thể nói, trọng tâm của Phật giáo không phải thay đổi thế giới mà là thay đổi tâm tánh, thay đổi cách nhìn, niềm tin, và bằng cách đó thay đổi cuộc sống. Tuy ta vẫn thường nói người này có tâm, người kia vô tâm hoặc thất nhân tâm. Nhưng hiểu rõ như thế nào là “Tâm”, ý nghĩa chữ Tâm như thế nào là sống có tâm thì hãy cùng tìm hiểu qua bài viết dưới đây.

Chữ Tâm trong Phật Giáo

Ý nghĩa chữ "Tâm" trong Phật Giáo
Ý nghĩa chữ “Tâm” trong Phật Giáo

Chữ tâm cũng được dùng trong rất nhiều ngữ cảnh khác nữa, thường là kết hợp với một từ khác như  ‘tâm trạng’, ‘tâm tình’, ‘tâm tư’, ‘tâm tính’, ‘tâm thức’, ‘tâm ý’, ‘tâm thái’, ‘thiện tâm, ‘ác tâm’, vv. Bài khảo cứu này không chỉ định nghĩa các từ ngữ đó, mà có cái khảo sát về triết lý và từ nguyên của chữ tâm theo triết học đạo Phật.

Trong ngôn ngữ Pali, có ít nhất bốn chữ có nghĩa tương đương như chữ tâm của tiếng Việt. Đó là citta, ceto, mano & viññāṇā. Đoạn kinh văn trích dẫn ở trên thì chữ tâm này được dịch từ citta – tâm vương, và một tập hợp các tâm sở (cetasika) đi kèm với nhau để tạo ra một trạng thái tâm lý nào đó. Ví dụ như tâm tham là tâm thái có thích, ưa, muốn, khao khát, đắm say, níu giữ, thường đi kèm với si hoặc tà kiến, có thọ lạc hay xả, được kích thích hay tự động phát khởi, vv. Tâm sân là trạng thái nóng nảy khó chịu, là phản ứng khi có kích thích tạo ra cảm giác khó ưa, không thích và khó kham nhẫn. Tâm si là trạng tháitâm lờ đờ thiếu mẫn cảm, không biết những gì đang diễn ra, hoặc biết mà lơ mơ không hiểu rõ sự đến, đi, tồn tại và hậu quả của vấn đề.

Theo triết học A-Tỳ- Đàm (Abhidhamma), có 89 loại tâm, được phân chia theo cảnh giới và tính chấtthiện, bất thiện hay vô tác. Về mặt cảnh giới thì phân chia tâm dục giới, sắc giới hay vô sắc giới và tâm siêu thế. Trong bài viết này không phân tích tâm theo mô hình A-Tỳ-Đàm, mà chủ yếu nói đến việc nhận biết tâm, điều phục tâm và giải phóng tâm ra khỏi các phiền não nghiệp chướng – thứ khiến cho người ta khổ sở, bị trói buộc và dẫn dắt đến tạo nghiệp & tạo ra đau khổ.

Một con người thường được định nghĩa là bao gồm thân và tâm, cũng có thể nói theo ngôn ngữ hiện đạilà gồm “phần cứng” và “phần mềm”. Trong thuật ngữ Phật học, còn gọi là Danh và Sắc. Sắc là “phần cứng” do tứ đại hợp thành, còn “danh uẩn” là cảm nhận (Thọ),  ý thức (Tưởng), ‘chế tác lại’ (Hành), và lưu giữ (Thức – viññāṇa).  Tâm thức là một tiến trình theo Xúc (phassa), Thọ (vedanā), Tưởng (saññā) và Tư tác (cetana). Bình thường chúng ta chỉ thấy hình sắc, tức là thân thể mà thôi, không thấy được tâm tư, nhưng có thể cảm nhận được tình cảm. Khi căn môn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý thứctiếp xúc với trần cảnh là các đối tượng tương ứng với mỗi giác quan, thì tâm thức sinh khởi để ‘chế tác’ các thông tin đã ghi nhận được. Quá trình chế tác này cũng chính là cách mà chúng sinh tạo nghiệp, mỗi người cho riêng mình hay theo cách của mình, gần như không ai giống ai. Tôi gọi đây là tiến trình “ngũ uẩn hóa” (attabhāva), hình thành nên một bản ngã tồn tại độc lập với khách thể.

Tâm thức và sự đồng hóa – dính mắc – chấp thủ

Ý nghĩa chữ "Tâm" trong Phật Giáo
Ý nghĩa chữ “Tâm” trong Phật Giáo

“Này các Tỷ-kheo, thân do bốn đại tạo thành này được thấy đứng vững một năm, đứng vững hai năm, đứng vững ba năm, … , đứng vững năm mươi năm, đứng vững một trăm năm, đứng vững nhiều hơn nữa. Còn cái gọi là tâm này, là ý này, là thức này, này các Tỷ-kheo, cả đêm và ngày, khởi lên là khác, diệt đi là khác.”

Tâm thức sinh khởi và hoại diệt tùy theo đối tượng, có những luồng tâm diệt theo cảnh, nhưng cũng có những luồng tâm lưu giữ tướng trạng của đối tượng khá lâu, thậm chí rất lâu vì ấn tượng quá sâu đậm. Ấn tượng sâu đậm mà đối tượng để lại trên tâm có khi là thiện cảm, có khi là ác cảm. Những ấn tượngrõ nét này nếu được tưởng khuếch đại lên, hành tiếp nối chế tác, và thức ghi nhận, data hóa những gì đã qua chế biến như vậy tạo ra các nghiệp thiện và bất thiện liên hệ với đối tượng được nhận thức.

Với mỗi tương tác giữa thế giới chủ quan và các khách thể, tâm lại chế tác thành những ‘uẩn’ (khandha– đống, thứ, cái) khác nhau. Trong thuật ngữ Phật học, điều này được diễn tả bằng động từ abhisaṅkaroti– tạo ra ba món: phước hành, phi phước hành và bất động hành. Phước hành là tạo ra thiện tâmphước đức và thiện duyên; phi phước hành là tạo ra điều bất hạnh, làm mất phước, sinh ra nghịch duyên và đau khổbất động hành là thiền tâm, khi các tương tác không làm cho tâm dao động và phản ứng theo xu hướng yêu – ghét, thủ – xả.

Trong thuật ngữ Phật họcyếu tố giúp tâm định hướng được gọi là manasikāra – một trong những tâm sở thuộc hành uẩn. Nó có thể hướng dẫn tâm đi đúng hướng, có phương pháp để tâm không bị mắc kẹp vào đối tượng với các phản ứng thiếu thiện xảo. Khi đó nó được gọi là Yoniso manasikāra – Như lý tác ý – nghĩa là đưa tâm đi đúng đường để phiền não không có cơ hội sinh khởi và chiếm ngự tâm. Ngược lại, nếu tâm thức bị hướng dẫn sai lầm bởi phi như lý tác ý – ayonisa manasikāra – nghĩa là ý tưởng thêm thắt vào đối tượng và cảm thọ những phẩm chất mà chúng vốn không có, thì tâm bị chiếm ngự bởi phiền não và bị mất tự do tự tại do yêu ghét thủ chấp xen vào.

Những câu dạy về Tâm trong Phật Giáo

Ý nghĩa chữ "Tâm" trong Phật Giáo
Ý nghĩa chữ “Tâm” trong Phật Giáo

Trong Kinh Hoa NghiêmĐức Phật có dạy: “Nhứt thiết duy tâm tạo”

Nghĩa là: Mọi sự mọi việc đều do tâm tạo ra tất cả. Công đức cũng do tâm tạo, nghiệp chướng cũng bởi tại tâm. Đó chính là tâm sanh diệtlăng xăng lộn xộn, thay đổi luôn luôn, thường do tham sân si chi phốithúc đẩy, điều khiển, cho nên con người thường tạo nghiệp bất thiện nhiều hơn là nghiệp thiện. Chúng ta đã thấu hiểu lý lẽ chân thật của cuộc đời là: vô thường, không có gì tồn tại vĩnh viễn, không có gì là tự nhiên sanh mà không có nguyên nhân.

Luật nhân quả áp dụng trong ba thời: quá khứhiện tạivị lai. Sinh sự thì sự sinh. Nhân nào thì quả nấy. Gieo gió thì gặt bão. Có lửa thì có khói. Cầu nguyện với tâm lăng xăn lộn xộn, chỉ đem lại sự bình an tâm trí tạm thời. Bình an thực sự chỉ có cho người thiện tâmThiên đàngđịa ngục, tuy là hai tâm trạng khác nhau, nhưng thực sự, tất cả chỉ là các trạng thái ở trong tâm của chúng ta mà thôi.

Bởi vậy cho nên, có bài kệ như sau:

Tội từ tâm khởi đem tâm sám

Tâm đã diệt rồi tội cũng vong

Tội vong tâm diệt cả hai không

Đó chính thực là chân sám hối.

Nghĩa là: Tất cả những tội lỗi gây ra, đều do tâm chúng ta chủ động, thì phải thành tâm mà sám hối, tự trong thâm tâm. Từ đó, chúng ta phát nguyện không tái phạm, cho nên mỗi khi tâm tham, tâm sân, tâm si khởi lên, chúng ta liền biết ngay, dừng lại, không làm theo sự điều khiển, sai khiến của tham sân si, thì tội lỗi sẽ không còn tái phạm nữa. Khi tội lỗi không còn, tâm sanh diệt cũng lặng mất, con người sống trong trạng thái tịch tịnh, bình yên của tâm trí. Đó mới thực là sự sám hối chân chánh.

Ý nghĩa chữ "Tâm" trong Phật Giáo
Ý nghĩa chữ “Tâm” trong Phật Giáo

Trong Kinh Thủ Lăng NghiêmĐức Phật có dạy: “Tùy tâm biến hiện”

Nghĩa là: Mọi sự mọi việc trên thế gian này như thế nào, tốt hay xấu, lành hay dữ, đúng hay sai, phải hay quấy, được hay không, đều do vọng tâm của chúng ta biến hiện ra cả. Sự cảm thọ tùy theo tâm trạng, tùy theo cá nhân, không ai giống ai, không lúc nào giống với lúc nào, không thời nào giống với thời nào, không nơi nào giống với nơi nào.

Trong sách có câu:

“Tâm buồn cảnh được vui sao”.

“Tâm an dù cảnh ngộ nào cũng an”.

Nghĩa là: Cùng một cảnh vật như vậy, nếu có tâm sự buồn phiền áo nãochúng ta không thấy cảnh vui chút nào. Còn nếu chúng ta có tâm trạng hân hoan vui vẻ, dù cây khô trụi lá, cảnh vẫn đẹp vui như thường. Cái tâm hân hoan vui vẻ là chúng ta, hay cái tâm buồn thảm lê thê là chúng ta? Cùng một câu nói như vậy, nếu tâm an ổnvui vẻ mát mẻchúng ta cũng cho là: nói đúng nói phải, nói sao cũng được, nói ngược cũng xong. Trái lại, tâm đang bực bội, ai nói câu nào, chúng ta cũng cho là: nói sai nói bậy, nói xiên nói xỏ, nói bóng nói gió, nói hành nói tỏi, nói quấy nói quá.

Đối với người thân thương yêu, tâm ý của mình tốt, mặc dù chưa chắc lúc nào cũng tốt được y nhưvậy. Còn như đối với kẻ thù người oán, tâm ý mình không tốt, sẵn sàng gây phiền não khổ đau cho họ. Họ càng khổ đau nhiều chừng nào, mình càng khoái chừng đó! Vậy, hãy thử nghĩ xem, chúng ta là người: có tâm thực tốt, hay tâm không tốt? Chẳng hạn như là: nếu chúng ta đang cần sự giúp đỡ khẩn cấp, khi gặp tai biến, thì viên cảnh sát chính là ân nhân. Còn nếu chúng ta đang vi phạm luật pháp, làm chuyện mờ ám, làm ăn phi pháp, thì bóng dáng viên cảnh sát thực chẳng đáng ưa chút xíu nào cả. Cùng một câu chuyệnchúng ta ưa thích thì cho là đúng, ngược lại không ưa liền cho là sai. Cái tâm sanh diệtlăng xăng lộn xộn, thay đổi bất thường như vậy, thực không phải là chúng ta.

Trong Kinh A HàmĐức Phật có dạy: “Tam giới tâm tận, tức thị niết bàn”

Ý nghĩa chữ "Tâm" trong Phật Giáo
Ý nghĩa chữ “Tâm” trong Phật Giáo

Nghĩa là: Khi nào dứt sạch tâm trong ba cõi, lúc đó chúng ta mới thấy được niết bànBa cõi, còn gọi là tam giới, đó là: dục giớisắc giới và vô sắc giới.

Khi tâm tham nổi lên, chúng ta sống trong dục giới, tức là cảnh giới đắm nhiễm tham dụccảm thấy đau khổ triền miên vì lòng tham của con người không đáy, không bao giờ thỏa mãn được. Con người sống trong dục giới lúc nào cũng cảm thấy khao khát, thiếu thốn, được bao nhiêu cũng không thấy đủ, cho nên luôn luôn chạy đôn chạy đáo, tìm kiếm ngũ dục: tiền tài, sắc đẹp, danh vọngăn uống và ngủ nghỉ.

Khi tâm sân nổi lên, ngay lúc đó, chúng ta sống trong sắc giới, tức là cảnh giới chấp chặt sắc tướng, lòng như thiêu đốt, sắc mặt tái xanh, vì sự tức giận, vì sự bất mãn. Dù tâm tham không còn, tâm sân cũng tai hại vô cùng.

Trong Kinh Hoa NghiêmĐức Phật có dạy

Nhất niệm sân tâm khởi,

bách vạn chướng môn khai.

Nghĩa là: Một khi tâm niệm tức giận, sân hận khởi lên mà chúng ta không tự kềm chế, không tự khắc phục, thì biết bao nhiêu, trăm ngàn vạn chuyện khó khăn, đau khổchướng ngại tiếp nối theo sau đó.

Khi tâm si nổi lên, chúng ta sống trong vô sắc giới, tức là cảnh giới vô minh, rất dễ lầm đường lạc nẽo, mê tín dị đoan, rất dễ dàng tạo tội tạo nghiệp bằng cách: hãm hại trả thùlập mưu tính kế, vu khống cáo gian, thưa gửi kiện tụng, không cần biết hậu quả khổ đau đối với các người khác và gia đình họ. Những giây phút ngu silầm lẫn thường là nguyên nhân của những sự hối tiếcđau khổ sau đó, cho mình và cho người khác, có khi kéo dài triền miên suốt cả cuộc đời.

Ý nghĩa chữ "Tâm" trong Phật Giáo
Ý nghĩa chữ “Tâm” trong Phật Giáo

Bởi vậy cho nên, phải dẹp trừ tận gốc các tâm tham sân si, trong kinh sách gọi đó là: tam độcchúng tathoát ly tam giới gia, cuộc sống mới an lạc và hạnh phúc.

Chữ Tâm xem ra cũng thật sâu xa và cũng thật mênh mông, rộng lớn; bao hàm rất nhiều điều mà con người nên có, cần có. Và, Tâm không đơn thuần chỉ là một cách sống, hay một điều có để cho…đẹp; mà Tâm làm nên sức mạnh thực sự đối với người có Tâm.

Trên đây là bài viết Làng Nghề Cát Đằng sưu tập từ nhiều nguồn khác nhau mọi thông tin mang tính chất tham khảo.

Làng nghề Cát Đằng cung cấp thông tin chi tiết về bài viết
Ý nghĩa chữ "Tâm" trong Phật Giáo
Tên bài báo
Ý nghĩa chữ "Tâm" trong Phật Giáo
Thông tin mô tả chi tiết
Có thể nói, trọng tâm của Phật giáo không phải thay đổi thế giới mà là thay đổi tâm tánh, thay đổi cách nhìn, niềm tin, và bằng cách đó thay đổi cuộc sống. Tuy ta vẫn thường nói người này có tâm, người kia vô tâm hoặc thất nhân tâm. Nhưng hiểu rõ như thế nào là "Tâm", ý nghĩa chữ Tâm như thế nào là sống có tâm thì hãy cùng tìm hiểu qua bài viết dưới đây.
Nhà báo
Bản quyền nội dung
Làng nghề Cát Đằng
Logo
Hotline: 0353.247.247
Chat Facebook
Gọi điện ngay