Nhâm Bàn – Đồ Nghề Chuyên Dùng Của Thầy Phong Thủy

NHÂM BÀN

Nhâm bàn, còn có tên lục nhâm thức bàn, trong di chỉ Hán đã đảo được hiện vật. Như ở mộ Vũ uy ma chùy tử, có trấn mộ thú (thú đá gác mộ) đặt kề cửa mộ, nhâm bàn thì để trong quan tài.

Lục nhâm là phương pháp cổ đại dùng âm dương ngũ   hành bói lành dữ. Vì trong một lục thập Giáp Tổ có sáuNhâm (Nhâm Thân, Nhâm Ngọ, Nhầm Thìn, Nhâm Dần, Nhâm Tý, Nhâm Tuất), nên có tên lục nhâm. Cách xem là chia thành 64 khóa, dùng thiên bàn, địa bàn có khắc can chi (thiên bàn chồng lên địa bàn, xoay quanh mứt trục đồng tâm), xoay thiên bàn, được bộ vị khớp với can chi và thời khắc, để đoán được cát hung. Lục Nhâm hợp với Tuất Giáp, Thái Ất, gọi là tam thức, là thuật số mà cổ đại thường dùng. Trong ‘Tứ khổ toàn thư” có ‘Lục nhâm tâm kinh yếu”, viết :”Lục nhâm từ cổ truyền lại, hoặc nói từ Hoàng Đế, Huyền nữ đặt ra, cụ thể là ai thì không xác minh được về kỹ thuật chế tạo, phải là nhà thông thái đời sau mới làm được. Lại để tính toán căn cứ vào ngũ hành mà ngũ hành bắt đầu từ thủy, lấy khởi dương để cử âm, do đó gọi là Nhâm. Lấy sinh Hợi để cử thành, do đó dùng lục. Có thiên địa bàn lại thêm thần tướng, tuy gần với thức kỳ tuân, lục cung, do can chi mà có tứ khóa, tất lưỡng nghi tứ tượng. Do phát dụng mà có tăm truyền, tất một sinh ba, ba sinh vạn vật. Sáu mươi tư khóa, không khóa nào xa với nghĩa gốc của hào, chi lưu của dịch tượng do đó mà suy ra.”

Bàn kiểu lục nhâm do hai bàn đồng tâm chồng lên nhau, bàn tròn gọi thiên bàn, bàn vuông gọi địa bàn, tượng trưng trời tròn đất vuông. Giữa thiên bàn vẽ chùm sao Bắc đẩu hai vòng chữ lệ xung quanh, thì vòng ngoài là 28 sao, vòng trong là 12 chử số. Các chử số này biểu thị nguyệt tướng hoặc nguyệt thần. Địa bàn có ba tầng,  tầng trong là bát can tứ duy, tầng giữa là thập nhị chi, tầng ngoài là 28 sao.
Cách sử dụng nhâm bàn như sau ; Xoay thiên bàn, lấy can chi thời khắc đối với vị thiên bản và địa bàn để phán đoán cát hung. So với từ nam thời Hán thì nhâm bàn thiếu kim từ, không thể xác định phương hướng.
Dù vậy, nó vẫn là công cụ để tướng địa, ‘Đường lục điển’, quyển 14, chép thuật lục nhâm có 9 cách dùng, cách thứ tư là cho nhà cửa, thứ 9 là cho chôn cất người chết. Lưu Khởi Mông đời Tống trong “Lục nhâm quân tướng phú” chép “Đêm tối lạc dường, phải dùng thiên bàn”. Chúc Mật trong “Lục nhâm đại chiên” chép:“Hợi hợp với chỗ ở của đại tướng”, đều nói về nhâm bàn định phương vị.