76 lượt xem

Lý Thuyết Xuyên Suốt Vũ Trụ Âm Dương Trong Thuật Phong Thủy

Lý Thuyết Xuyên Suốt Vũ Trụ Âm Dương Trong Thuật Phong Thủy

Từ xưa đến nay , nói đến Ngũ hành tất phải nói đến Âm dương và ngược lại.Học thuyết Âm dương và học thuyết Ngũ hành là hai bộ phận cấu thành triết học cổ đại của Trung Quốc

Chúng là phương pháp của người Trung Quốc cổ nhận thức và phân tích sự vật.Trong quá trình vận dụng thực tế , hai học thuyết này thường có mối liên hệ với nhau chặt chẽ. Do đó ở đây cũng được chúng ta dùng để giải thích và làm sáng tỏ về thực tiễn của lý luận này.

Lý Thuyết Xuyên Suốt Vũ Trụ Âm Dương Trong Thuật Phong Thủy
Lý Thuyết Xuyên Suốt Vũ Trụ Âm Dương Trong Thuật Phong Thủy

Âm dương và lưỡng tính

Âm dương, quan niệm cổ xưa này thực chất hình thành từ sự quan sát và cảm nhận của người xưa đối với hiện tượng nhật nguyệt của trời đất.
Trung Quốc là một đất nước có nền nông nghiệp lâu đời. Xuất phát từ nhu cầu về nông nghiệp cày bừa, người xưa quan sát đo đạc tinh tế và tỉ mỉ, lấy hiện tượng ngày và đêm làm chủ, ghi chép lại hiện tượng liên quan đến nhật thực, nguyệt thực sớm nhất trên trái đất. Người Trung Quốc sử dụng một bộ lịch sớm nhất và cũng lâu đời nhất đó chính là lịch Âm dương. Theo nghiên cứu, trong lời tiên đoán của đời nhà Thương thì đã xuất hiện chữ dương, trong văn tự trên bia ở thời Tây Chu đã xuất hiện chữ Âm dương.
Trong sự quan sát của người xưa, mặt trời treo trên không trung, ánh sáng toả ra xung quanh, mặt đất sáng bừng thì gọi là dương; mặt trời bị mây che lấp, ánh sáng không nhìn thấy nữa, mặt đất trở nên tối tăm, cái đó gọi là âm. Đây chính là ý nghĩa đầu tiên của Âm dương, là chỉ sự hướng chỉ của ánh sáng mặt trời, xuất hiện trước chỉ dương, xuất hiện sau chỉ âm. Dãy núi của phía hướng mặt trời gọi là “sơn dương”, dãy núi của phía sau mặt trời gọi là “sơn âm”. Nơi mà ánh sáng mặt trời chiếu xuống gọi là dương gian, nơi mà ánh sáng mặt trời không chiếu xuống được gọi là âm phủ.
Do có sự chiếu sáng của ánh sáng mặt trời nên con người cảm thấy ấm áp, không có ánh sáng mặt trời con người cảm thấy lạnh lẽo. Cổ nhân lại lấy Âm dương suy rộng ra chỉ sự nóng lạnh của thời tiết. Các nhà tư tưởng cổ đại cho thấy thế giới tự nhiên có hai thế lực vật chất đối lập và mâu thuẫn nhau. Bá Dương Phụ ở cuối thời Tây Chu cho rằng, mặt trời lặn nên không thể xuất hiện, mặt trăng bức bách nhưng không thể Bốc hơi, vì thế mà có địa chấn. Sách Quốc ngữ, Chu ngữ nói: “Vạn vật thiếu âm mà bao gồm dương”, khẳng định mối quan hệ quy luật mâu thuẫn của Âm dương đã có chính trong bản thân sự vật. Sách Dịch truyện từng bước nêu ra học thuyết của “nhất dương nhất âm chi vị đạo”, xem Âm dương như quy luật cơ bản của vũ trụ. Cuối thời kỳ Chiến quốc, coi là đại diện của các nhà Âm dương học và quan sát tinh tế sâu sắc tin tức về Âm dương học. Tuy nhiên do quá đề cao Âm dương nên vô hình chung đẩy lý luận Âm dương thành quanh co khó hiểu. Sách Sử ký, Mạnh Tử Tuân Khanh liệt truyện đưa Âm dương trở thành mối quan hệ thần bí “thiên nhân cảm ứng”.
Trong thế giới tự nhiên, hai mặt tính Âm dương của sự vật là tồn tại một cách phổ biến. Thời kỳ Xuân Thu, quan Tấn sử Thái Mặc đã chỉ ra mệnh đề “vật sinh hữu lưỡng”, hai mặt đối lập trên cùng một sự vật. Trời và đất, mặt trời và mặt trăng, chính và phần, nam và nữ, đực và cái, hai cực Nam Bắc của địa cầu đều là những ví dụ cụ thể về tính hai mặt của Âm dương. Sách
Lão Tử đã từng bước phát triển rộng ra, lấy một số sự việc trong cuộc sống hàng ngày cũng quy thành hệ thống mang tính hai mặt.
Sự hàm chỉ mang tính hai mặt Âm dương của lý luận Trung Quốc cổ đại đặc biệt rộng rãi, còn lấy những chữ điêu khắc trên bề mặt nồi gọi là chữ dương (dương bản), những chừ điêu khắc trên bề mặt lõm được gọi là chữ âm (âm bản); các kênh mương bên ngoài đường gọi là cống lộ thiên, những bờ phía Bắc của sông Hoàng Hà, Trường Giang gọi là Giang dương, Hà dương, bờ phía Nam sông Hoàng Hà gọi là Giang âm, Hà âm. Còn chỉ Âm dương trần gian, ít – nhiều, khéo léo – vụng về, thông minh – ngu dốt, nguy hiểm – dễ dàng, thực tại – hư ảo, cứng rắn – mềm mỏng, xấu – đẹp, vinh – nhục, sinh – tử, thiện – ác, Nam – Bắc, chính – phản, đỏ – đen, quân – thần, cha – con, vợ – chồng…

Theo quy luật mâu thuẫn của triết học duy vật biện chứng, hai mặt chính phản của sự vật là vĩnh hằng, chỉ cần sự vật có thể phân chia, hai mặt đó tồn tại vĩnh viễn. Sách Dịch kinh cho thấy quy luật phổ biến của một sự vật, lấy thuyết Âm dương coi thành lý luận cơ bản của Dịch học. Sách Dịch kinh, Thuyết quái nói: ‘Tích giả thánh nhân chi tác dịch dã, tương dĩ thuận tính mệnh chi tính, thị dĩ lập thiên chi đạo, nhật âm dư dương; lập địa chi đạo, nhật nhu dư cương; lập nhân chi đạo, nhật nhân dư nghĩa. Kiêm tam tài nhi lưỡng chi, cố dịch lập họa nhi thành quái, phân âm phân dương, tuyển dụng nhu cương”, đại ý là, xưa thánh nhân trước tác ra dịch, thuận theo tính mệnh, lập ra thiên đạo có âm có dương, lập ra địa đạo có cương có nhu, lập ra nhân đạo có nhân có nghĩa. Trời đất người là tam tài, trong mỗi thứ đó đều có hai mặt, nên 6 hào trong quái đều phân thành Âm dương, chọn dùng cương nhu.

Lý Thuyết Xuyên Suốt Vũ Trụ Âm Dương Trong Thuật Phong Thủy
Lý Thuyết Xuyên Suốt Vũ Trụ Âm Dương Trong Thuật Phong Thủy

Tất nhiên, hình thành từ thuyết Âm dương của Trung Quốc cổ đại không thể tránh khỏi sự ảnh hưởng tư tưởng của các thế lực giai cấp thống trị phong kiến. Trong thuyết Âm dương, một mặt sự gan góc, can đảm, hướng lên trở thành dương; một mặt của sự phàm tục tiêu cực, nhu nhược yếu kém, đi xuống gọi là âm. Âm dương hai mặt lấy cương dương làm sự tôn trọng, lấy nhu âm làm sự coi thường, khinh bỉ, vì vậy đàn ông là dương thì được coi trọng, đàn bà là âm bị coi thường, hoặc quân tử là dương (ý nghĩa ban đầu chỉ giai cấp quý tộc), tiểu nhân là âm (ý nghĩa ban đầu chỉ hàng thứ dân). Sách Lão Tử nói: “Trọng thành khinh, điềm tĩnh thành nóng nảy”. Sách Dịch kinh, Thượng Hệ từ nói: “Thiên tôn địa ti, Càn khôn định hỷ”, (trời cao đất thấp, định được Càn Khôn vậy).
Học thuyết Âm dương cho rằng, vạn vật trong vũ trụ đều tồn tại phổ biến hai mặt Âm dương đối lập nhau, chủ yếu biểu hiện ở sự đối kháng, đấu tranh lẫn nhau trong sự vật. Giống như lực tác dụng và phản tác dụng trong lực học, lực hấp dẫn và lực đẩy. Lực hấp dẫn là dương. Hai loại lực này vừa thay đổi cho nhau, vừa thống nhất với nhau. Newton từ quả táo rơi mà phát hiện ra định luật vạn vật hấp dẫn, nhưng ông không thấy được lực đẩy nhau. Do đó khi nói đến lực ly tâm của các ngôi sao đang vận động thì lý luận Newton đã bộc lộ ra mặt thiếu sót cơ bản của nó. Điều đó chứng tỏ định luật Newton còn thiếu nguyên lý đôi lập của học thuyết Âm dương.
Bất cứ sự vật nào mặt đối lập này vẫn phải thông qua đấu tranh với mặt đối lập kia để chế ước lại. Mặt động, tích cực lấy tĩnh để trấn áp lại, đó là mặt âm; mặt ngược lại là mặt dương. Có đấu tranh sẽ có thắng thua. Sự thắng thua này trong y học được xem là nguyên nhân gốc sản sinh ra bệnh tật. Sách Tô Vấn – ứng tượng đại luận nói: “Âm thắng thì dương bệnh. Dương thắng thì âm bệnh”. Trong điều kiện bình thường, hai mặt đối lập Âm dương cũng không phải là yên tĩnh cùng tồn tại trong một vật thống nhất mà luôn bài trừ nhau, đấu tranh lẫn nhau. Chỉ có không ngừng đấu tranh bài trừ như thế thì mới có thể thúc đẩy sự vật biến hóa và phát triển.
Sự đối lập của Âm dương biểu hiện trên nhu cầu tâm lý của con người theo hai mặt sau: thứ nhất là yêu cầu của anh mâu thuẫn với yêu cầu của người khác; thứ hai là, trong nội tại nhu cầu của anh vẫn tồn tại mâu thuẫn.
Chúng ta đều biết câu chuyện đấu tranh giữa Tôn Tẫn và Bàng Quyên. Theo sự phân tích từ nhu cầu tâm lý thì mâu thuẫn giữa hai người đều bắt nguồn ở chỗ mỗi người đều muốn thực hiện ở nhu cầu thành tích với mình. Mặc dù hai người cùng học một thầy, sau đó đều làm mưu sĩ cho một chủ, nhưng vì hai người đều đeo đuổi cùng một mục đích như nhau cho nên dẫn đến sự đối lập, bài trừ lẫn nhau. Sự đeo đuổi cùng một nhu cầu là nguyên nhân căn bản phát sinh sự xung đột. Chúng ta có thể cho rằng như thế sẽ tổn thương đến tình bạn, nhưng đó lại là điều tất nhiên và rất hợp lý. Sự xung đột giữa Tôn Tẫn và Bàng Quyên ngày càng kịch liệt, đồng thời cũng dẫn đến thành công, công danh của từng người. Bàng Quyên trước khi bị thua tự sát nói: “Không thành công thì cũng thành danh”. Điều đó đủ chứng tỏ ông ta có đầy đủ nhận thức tỉnh táo trong cuộc cạnh tranh, cả hai người trong cuộc đấu tranh đó đã đưa hết tài trí thông minh của mình ra để thực hiện nhu cầu của mình.
Đương nhiên sự xung đột về nhu cầu không những biểu hiện ở chỗ đồng tình thì bài trừ lẫn nhau mà còn biểu hiện nhu cầu của người này có thể trở thành mặt đối lập của nhu cầu người kia. Đó là sự thể hiện tính phức tạp và tính mâu thuẫn của cuộc sống.
Lấy một người mà nói, trong một thời gian nhất định nào đó, người ấy có thể có những nhu cầu ở những tầng thứ khác nhau, trong đấy có những nhu cầu có thể trở thành sự trở ngại cho việc thực hiện nhu cầu khác. Đội quân nông dân Lý Tự Thành sau khi tấn công thành Bắc Kinh thì có thể xem nhu cầu thành tích cơ bản đã được thực hiện. Khi đó nhu cầu sinh lý lại trở thành cái mà nhiều người truy tìm. Họ cảm thấy mình là người thắng lợi, cho nên không muốn sống cuộc đời gian khổ như trước đây nữa. Kết quả nhu cầu về cuộc sống mới đã cản trở việc thực hiện nhu cầu thành tích, do đó đội quân nông dân không thể đánh tan đến cùng bộ phận tàn quân của quân Minh, để lại mầm mống cho sự thảm bại về sau này.
Âm dương không những đấu tranh với nhau mà còn nương tựa lẫn nhau. Trong hai mặt Âm dương, bất cứ một mặt nào đều không thể thoát khỏi mặt kia để tồn tại một cách đơn độc.
Trên là dương, dưới là âm. Không có dưới thì cũng không có trên; ngược lại, không có trên thì cùng không có dưới. Cao là dương, thấp là âm. Không có dương cao thì không có âm thấp, hay ngược lại.
Dương dựa vào âm để tồn tại, âm cũng dựa vào dương để tồn tại. Mỗi bên đều lấy bên kia làm điều kiện tồn tại. Trong sách Loại kinh đồ dực – Âm dương thể tượng nói: “Âm không có dương thì không sinh, dương không có âm thì không thành”. Nếu hai mặt Âm dương mất đi điều kiện tồn tại, gọi là cô âm, cô dương thì vạn vật sẽ không thể sinh hóa và trưởng thành được.
Hoàng Đế khi thảo luận Âm dương với Kỳ Bá nói: “Khí của dương trong hướng lên trên, Bắc lên mà thành trời. Khí của âm đục giáng xuống kết tụ mà thành đất”. Nhưng cũng nên biết rằng nước ở trên mặt đất vì trời nóng bốc hơi lên cũng có thể hóa thành khí, bay lên cao thành mây. Mây trên trời dưới tác động của sức hút quả đất cũng có thể giáng xuống thành mưa. Tức là nói mưa tuy từ trên trời rơi xuống, nhưng nguồn gốc sâu xa là do nước từ đất bốc  lên. Mây tuy là hơi nước trên mặt đất bốc lên mà thành, nhưng là do sự bốc hơi của dương khí trên trời mà thành. Điều này chứng tỏ Âm dương là tác dụng lẫn nhau. Âm cũng có thể bốc lên, dương cũng có thể giáng xuống, âm và dương dựa vào nhau, là điều kiện của nhau.
Theo nhu cầu tâm lý của con người mà nói, nếu không có nhu cầu của người khác thì nhu cầu của mình cũng không có ý nghĩa. Tất cả mọi người đều cố gắng thực hiện nhu cầu của mình, do đó cung cấp cho người khác cơ hội và khả năng để thực hiện nhu cầu của họ. Còn về nhu cầu cá nhân mà nói, nếu không có sự thực hiện nhu cầu đó thì sẽ không có sự thỏa mãn cho nhu cầu khác.
Người xưa nói: “Mọi người thành thánh thì không có học trò, nước trong tuyệt đối thì không có cá”. Trong tuyệt đối hoặc thành thánh theo góc độ Âm dương đều là hiện tượng cô âm, cô dương, nên không còn tác dụng sinh hóa. Giới hạn này những kẻ phàm phu, tục tử khó mà làm được.
Chúng ta thường nói: “Tôi yêu mọi người, mọi người yêu tôi”, “Mình vì mọi người, mọi người vì mình”. Đạo đức đó thể hiện triết lý Âm dương nương tựa vào nhau. Nó khiến cho chúng ta nhận thức được mình sống trong tập thể, lợi ích của tập thể cũng chính là lợi ích của mình, hay nói cách khác: lợi ích của mình chính là lợi ích của tập thể. Làm yếu hay tiêu diệt lợi ích của tập thể cũng chính là làm yếu hay đánh mất lợi ích của mình.

Lý Thuyết Xuyên Suốt Vũ Trụ Âm Dương Trong Thuật Phong Thủy
Lý Thuyết Xuyên Suốt Vũ Trụ Âm Dương Trong Thuật Phong Thủy

Đối với một người có khát vọng được tôn trọng, sự tôn trọng của anh ta thường gắn chặt với đất nước, dân tộc, gia tộc hoặc đơn vị cơ quan mà anh ta sinh sống. Sự tôn trọng đó cũng ở những mức độ khác nhau.
Sự tiêu giảm hoặc tăng trưởng của Âm dương là nói hai mặt Âm dương ở trong trạng thái vận động biến hóa không ngừng. Nếu âm tiêu giảm dương tăng trương, hoặc ngược lại. Hai mặt Âm dương không bao giờ ở trạng thái yên tĩnh không biến hóa mà chúng luôn luôn ở trạng thái vận động.
Ví dụ sự ra đời của các công năng hoạt động trong cơ thể tất nhiên đòi hỏi phải tiêu hao một lượng chất định dưỡng nhất định. Đó chính là quá trình âm giảm dương tăng. Mà sự đồng dị hóa của các chất trong cơ thể lại đòi hỏi phải tiêu hao một năng lượng nhất định, đó chính là quá trình dương giảm âm tăng.
Trong trạng thái bình thường, sự Âm dương tiêu, trương này thường ở trong trạng thái cân bằng tương đối. Nếu sự tiêu, trưởng vượt quá một giới hạn nhất định thì sự cân bằng tương đối đó sẽ bị phá hoại. Lúc đó sẽ xuất hiện một mặt nào đó thiên thịnh, còn mặt kia thiên suy.
Thiên thịnh và thiên suy trong nhân thể chính là trạng thái bệnh tật. Sách Tô Vấn – ứng tượng đại luận tổng kết nói: “Âm thắng thì dương bệnh, dương thắng thì âm bệnh”. Cái ở đây gọi là “bệnh” cũng giống như bệnh tâm lý của con người.
Khi một người để thực hiện nhu cầu thành tích của mình, anh ta luôn phải hy sinh những nhu cầu khác. Hành động khác thường đó của con người có mặt là cao cả, nhưng cũng có mặt là thấp hèn. Mặt cao cả biểu hiện ở tinh thần hy sinh của mình nhưng ngược lại mặt thấp hèn biểu hiện ở chỗ có tính bi kịch. Vì hy sinh mình là để chống lại hoặc để đi ngược với mục đích bình thường, nó vốn có tính cố chấp, biết là không làm được mà vẫn cố làm. Điếu đó vốn đã bao hàm tính bi kịch.
Những hành vi khác thường là việc bỗng nhiên phát sinh. Quy luật tiêu trương của Âm dương đòi hỏi anh phải làm như thế, ví dụ: có một hôm anh ngủ dậy muộn, để đi làm không chậm giờ anh đành phải bỏ bữa điểm tâm mà vợ đã làm sẵn. Những việc vặt như thế thường xảy ra trong cuộc sống thường ngày. Nó phá vỡ kế hoạch hoặc thói quen trong cuộc sống của anh.
Anh muốn thỏa mãn được mặt này thì phải hy sinh nhu cầu mặt khác. Thượng đế đã sắp đặt nguyên tắc công bằng như thế. Những người thành thạo trong cuộc sống đều rõ điều này, cho nên họ cố gắng tránh sự lựa chọn cực đoan. Người đầu óc tỉnh táo đều biết rõ, khi gặp trường hợp như thế họ sẽ chủ động chọn cách xử lý thích hợp, kìm chế mình thoát khỏi sự cám dỗ những dục vọng làm rung động lòng mình.
Hai mặt Âm dương dưới điều kiện nhất định có thể chuyển hóa từ mặt này sang mặt kia, tức âm có thể chuyển hóa thành dương, dương chuyển thành âm. Đêm kéo dài đến một thời gian nhất định thì chuyển thành ban ngày hoặc ngược lại, ban ngày sau một thời gian nhất định lại chuyển sang đêm. Nóng bức của mùa hạ đến một mức độ nhất định sẽ chuyển sang sự mát mẻ của mùa thu, rồi giá lạnh của mùa đông. Dịch kinh chỉ rõ: “Sinh ra vạn vật gọi là hóa, vật cực thì biến, sự biến hóa của Âm dương gọi là thần”.
Sự chuyển hóa của Âm dương theo triết học mà nói đó là sự biến đổi về chất. Còn sự tiêu giảm hay tăng trưởng của Âm dương là sự biến đổi về lượng. Tiêu giảm, tăng trưởng là điều kiện tiền đề của chuyển hóa, còn chuyển hóa là kết quả tất yếu của quá trình tiêu giảm, tăng trương. Lượng biến tất dẫn đến chất biến, đó là quy luật khách quan. Trong cuộc sống thường ngày người ta thường gọi: động cực sinh tĩnh, tĩnh cực sinh động, cùng tắc biến, khổ tận cam lai,… đều là theo nghĩa đó.
Theo nhu cầu con người, nếu không có sự biến hóa của Âm dương thì cũng không có sự thỏa mãn. Trong thực tiễn cuộc sống, nhu cầu thường không được thỏa mãn ngay mà phải sau một quá trình tiêu giảm, tăng trưởng của Âm dương, sự thực hiện nhu cầu được tích lũy dần, cuối cùng mới đạt được thỏa mãn. Do đó nhu cầu mới lại được nảy sinh. Trên thực tế khi thực hiện xong nhu cầu cũ lại làm nảy sinh ra nhu cầu mới.
Nhu cầu thành tích của một học sinh phổ thông có thể là thi đỗ vào trường đại học lớn. Khoảng cách giữa trường đại học và trương phổ thông là quá trình tiêu giảm, tăng trưởng nhu cầu thành tích của học sinh đó. Quá trình này có thể phải qua sáu năm mới đạt được, nhưng cũng có thể chỉ cần năm năm, bốn năm hoặc ba năm. Một khi đã vào được trường đại học là anh ta đã hoàn thành sự biến đổi về chất.
Song, nếu thi đỗ đại học thì cũng không có nghĩa là nhu cầu đó sẽ không biến đổi về chất được nữa. Nhiều thanh niên sau khi thi hỏng đã định hướng lại mục tiêu mới của mình và cố gắng phấn đấu thực hiện mục tiêu đó. Tức là nói kết quả, khả năng sự biến đổi về chất có hai loại chứ không phai chỉ có một loại duy nhất. Hoặc là kết quả tốt, hoặc là kết quả xấu. Tóm lại sau quá trình lượng biến thì nhu cầu mới sẽ được phát sinh. Đó là kết quả tất yếu của chất biến.
Đối với sự chuyển hóa Âm dương của nhu cầu tâm lý ta không nên hiểu một cách giáo điều mà phải chú ý đến tính tất yếu của nó. Bất kỳ mặt nào của Âm dương qua biến đổi đều hướng chuyển sang mặt kia. Nhu cầu của con người cũng sẽ phát sinh và phát triển trong quá trình hoàn thành hay thực hiện.
Bất kỳ sự nỗ lực nào của con người ta cũng đều muốn đạt được chất biến. Sự nhận thức về chất biến ảnh hướng rất nhiều đến sự lựa chọn. Sự lựa chọn cực đoan để thực hiện nhu cầu thường mang tính chủ quan, mù quáng. Vì để thực hiện được một nhu cầu, cái giá anh phải bỏ ra không thể dùng làm chuẩn để đo lường sự trả giá của người khác. Người khác có thể chỉ dùng hoặc hai năm để viết nên một tác phẩm nổi tiếng, còn anh có thể không cần đến thời gian dài như thế nhưng cũng có thể phải cần một thời gian dài hơn mà vẫn không làm được.

Lý Thuyết Xuyên Suốt Vũ Trụ Âm Dương Trong Thuật Phong Thủy
Lý Thuyết Xuyên Suốt Vũ Trụ Âm Dương Trong Thuật Phong Thủy

Kết quả chất biến có thể giống nhau đối với mỗi người, nhưng quá trình lượng biến là rất khác nhau. Triết lý đó có thể đã được Tônstôi nói rõ trong lời mở đầu của một tác phẩm nổi tiếng của ông. Đó là: “Các gia đình hạnh phúc thường là giống nhau, còn các gia đình bất hạnh thì lại mỗi nhà một vẻ”.
Âm dương trong quá trình biến hóa phát triển, tuy sẽ mất cân bằng, nhưng kết quả của sự biến hóa phát triển đó vẫn phải khôi phục lại sự cân bằng tương đối.
Theo triết học, đối lập và đấu tranh là tuyệt đối, còn cân bằng chỉ là tương đối. Nhưng mục đích của đối lập và đấu tranh là để đạt được sự cân bằng mới. Đối lập và đấu tranh là tiền đề và thủ đoạn của sự cân bằng. Do đó sự cân bằng mới sẽ không còn là sự cân bằng cũ nữa.
Học thuyết Âm dương vô cùng coi trọng sự cân bằng Âm dương, cho rằng đó là trạng thái tốt nhất để sự vật phát triển. Sách Tố Vấn – Sinh khí thông đại luận nói: “Âm bình dương bí, tinh thần nãi trị, Âm dương ly tuyệt, sinh khí nãi tuyệt” (nghĩa là: âm lặng dương kín, tinh thần còn tồn tại, Âm dương tách rời nhau thì sinh khí cũng hết). Đó là cách nói của các tiên triết Trung Quốc về sự sống của nhân thế. Nó là biểu hiện tập trung của Âm dương hài hòa. Nếu sự hài hòa đó mất đi, cơ thể sẽ sinh ra bệnh tật.
Nhu cầu của con người theo nội bộ cơ thể mà nói: từ nhu cầu bị khuyết thiếu đến nhu cầu được thỏa mãn là quá trình mất cân bằng đạt đến cân bằng.
Trong lòng mỗi người đều mang sẵn  các nhu cầu. Theo thuyết tầng thứ của Maslow và thuyết Ngũ hành mà chúng ta vừa đưa vào, chúng ta sẽ phát hiện được mối quan hệ giữa các nhu cầu khác nhau của con người cần đạt được sự cân bằng tương đối, tức là sự thực hiện hay phát triển nhu cầu đều phải biểu hiện thành hoặc đạt đến trạng thái hài hòa. Như vậy mới khiến cho tâm lý con người được bình tĩnh, trong sáng, nếu không sẽ xuất hiện những biểu hiện không tốt như tâm trạng bất an, cuồng loạn hoặc lo lắng.
Trạng thái tâm lý này vừa là một dạng bệnh tật, nếu tồn tại lâu sẽ dẫn đến các bệnh về mặt sinh lý.
Mối quan hệ giữa cá thể có nhiều nhu cầu khác nhau này với các cá thể khác cũng cần có sự cân bằng tương đối. Nếu không có sự cân bằng tức là giữa các cá nhân có sự cạnh tranh, thậm chí là sự phản đối nhau. Chỉ khi có sự cân bằng thì các cá thể mới có sự chung sống hòa bình, thân ái với nhau.
Giữa Liêm Pha và Lạn Tương Như có một quãng thời gian không được thoải mái. Nguyên nhân là vì Lạn Tương Như nhờ kiến thức hơn người mà giành được thắng lợi ngoại giao cho Quốc vương, làm cho kẻ địch không dám coi thường nước Triệu. Lạn Tương Như cũng nhờ đó mà được quốc vương trọng dụng. Ví dụ, Liêm Pha rất không vừa lòng, vì nghĩ rằng chiến công của mình là xuất chúng, đáng lẽ phải được vua ban thưởng và trọng dụng hơn Lạn Tương Như. Ông từng nói công khai: sẽ có lần cười vào mặt Lạn Tương Như trước mặt mọi người cho hả giận. Nhu cầu đòi hỏi được tôn trọng của Liêm Pha và của Lạn Tương Như đã phát sinh đối kháng. Lạn Tương Như sau khi nghe thấy đã chủ động xa cách Liêm Pha. Thủ hạ của ông không hiểu, Lạn Tương Như bèn giải thích: “Kẻ địch sở dĩ không dám đến xâm phạm nước ta là vì văn có Lạn Tương Như, võ có Liêm Pha. Nếu chúng ta không đoàn kết thì kẻ địch sẽ dám đánh sang. Tôi không nên vì chút danh dự hão mà đưa lại bất hạnh cho đất nước”. Câu nói này bay đến tai Liêm Pha, khiến ông vô cùng xấu hổ, tự mình đến nhà Lạn Tương Như nhận lỗi. Từ đó nhu cầu giữa hai người được giải quyết êm đẹp, đạt được cân bằng.
Cân bằng là sự thỏa mãn cơ bản của nhu cầu. Đó không phải là sự thỏa mãn vĩnh cửu, là sự giải quyết cơ bản của mâu thuẫn, xung đột. Nhân hòa chính là sự điều tiết một các hòa bình nhu cầu giữa các cá nhân, khắc phục những nhân tố bất lợi, giảm bớt những trở lực không cần thiết, tranh thủ nhiều hơn sự ủng hộ của người khác.

Âm dương và vạn vật

Lý Thuyết Xuyên Suốt Vũ Trụ Âm Dương Trong Thuật Phong Thủy
Lý Thuyết Xuyên Suốt Vũ Trụ Âm Dương Trong Thuật Phong Thủy

Trong nghiên cứu bản thể của thế giới, các nhà tư tưởng gia Trung Quốc cổ đại cho rằng, hình thái đầu tiên của thế giới là vô cực đến thái cực. Giải thích về “thái cực” có nhiều cách hiểu khác nhau: thái cực là gốc của trời, thái cực là chưa có vật, hoặc nói là “khí”, hoặc nói là “đạo”. Sách Lão Tử nói: “Hữu vật hỗn thành, tiên thiên địa sinh, tịch hề liêu hề, độc lập nhi bất cải, chu hành nhi bất đãi, khả dĩ vi thiên hạ mẫu, ngô bất trí kỳ danh, tự chi viết đạo”, đại ý vật hỗn mang chưa thành, có trước trời đất, yên tĩnh mà vắng vẻ, độc lập mà không đổi, vận hành mà không nguy, có thể coi là mẹ của thiên hạ. Ta không biết tên là gì, gọi chữ là “đạo”.
Sự vận động của thái cực sinh ra Âm dương, Âm dương là mẫu thể sinh ra vạn vật. Trong điển tích cổ đại này có một lý luận được mở rộng.
Sách Lão Tử viết rằng: “Đạo sinh nhất, nhất sinh lưỡng, lưỡng sinh tam, tam sinh vạn vật. Phụ âm nhi bao dương, xung khí dĩ vi hoà”, đại ý là: Đạo sinh một, một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh vạn vật, vạn vật chịu âm mà mang dương, Âm dương giao hợp nên vạn vật trở nên hài hoà.
Học giả thời Tống, Chu Đôn Hi trong tác phẩm Thái cực đồ thuyết có nói về đạo như sau: “Vô cực rồi đến thái cực, thái cực động thì sinh dương, tĩnh thì sinh âm, tĩnh đến tận cùng thì chuyển thành động. Nhất động nhất tĩnh tương hỗ là gốc phân âm phân dương, phân lưỡng nghi vậy. Âm biến dương hợp mà sinh Ngũ hành Thủy, Hỏa, Thổ, Kim, Mộc… Đạo Càn là nam, đạo Khôn là nữ, nhị khí giao cảm mà hoá sinh ra vạn vật. Vạn vật sinh biến hoá vô cùng”.
Theo quan điểm của người xưa, vạn vật phân thành Âm dương, Âm dương kết hợp lại mà sinh ra đạo lý của vạn vật, phản ánh một quy luật về diễn biến sinh sôi của thế giới vật chất, đã trở thành một quy luật phổ biến mà tất cả mọi người đều biết.

Âm dương và thiên tai

Trong khi nghiên cứu biến hoá Âm dương, cổ  nhân đã chỉ ra hai xu hướng, thứ nhất là hòa thuận, thứ hai là trái ngược.
Âm dương sản sinh ra vạn vật là hòa thuận. Âm dương hòa thuận, ngày đêm phân biệt rõ ràng, bốn mùa tuân theo quy luật, chim chóc hót vang, mưa thuận gió hoà, vạn vật sinh sôi nảy nở, tinh thần sảng khoái. Dịch kinh, Hệ Từ quyển hạ viết rằng: “Tử viết: Càn, dương vật dã. Khôn, âm vật dã. Âm dương hợp đức, nhi cương nhu hữu thể, dĩ thể thiên Địa chi, dĩ thông thần minh chi đức”, đại ý là: Nếu như Âm dương trái ngược, hoặc là Âm dương không cân bằng, sự biến hoá của sự vật sẽ trở nên khác thường, sẽ xuất hiện hiện tượng ngày và đêm không phân biệt, bốn mùa hỗn loạn, nóng lạnh rối loạn, xuất hiện lũ lụt, hạn hán, động đất, hỏa hoạn, dịch bệnh và phát sinh ra các thiên tai khác.
Phong thủy là hiện tượng xuất hiện trong sự hòa thuận và trái ngược của Âm dương, được gọi là cát hung, được xem như là ám thị của thần linh, đưa vào phạm trù “thiên nhân cảm ứng”. Do đó, cũng chính là lấy sự nhận thức chính xác của con người đối với các hiện tượng khách quan trong thế giới tự nhiên, che đậy lớp màu sắc mê tín.
Trong thời đại ngày nay, chúng ta có thể thấy nhận thức mới nhất của cổ nhân về Âm dương bất hòa đã xuất hiện thiên tai. Nguyên nhân chính có thể là chỉ hệ sinh thái tự nhiên, sau khi mất đi sự cân bằng mang lại cho con người những thiên tai, tai họa. Âm dương bất hòa của tự nhiên có người cho rằng đó là một nhân tố của tự nhiên. Nếu như con người đối với tự nhiên không công bằng, hợp lý và vi phạm các quy luật của tự nhiên thì sẽ gây ra thiên tai. Vương Sung ở thời Đông Hán trong sách Luận hoành, Cảm loại đã chỉ ra rằng: “Âm dương bất hoà, tai biến phát sinh…”.
Theo phỏng đoán của người xưa liên quan đến học thuyết sự biến hoá của Âm dương. Chúng ta có thể nhận ra rằng trong bản thân sự vật hiện tượng đã tồn tại hai mặt Âm dương, chúng có mối quan hệ tương hỗ và mâu thuẫn với nhau. Nếu con người biết vận dụng theo quy luật đó thì Âm dương hài hoà, làm ngược lại với nó thì Âm dương đảo lộn.
Sự biến hoá của Âm dương là một vận động mâu thuẫn phức tạp của sự vật, đó thuộc về 13 chương trong Dịch kinh. Có thể nói toàn bộ nội dung của Dịch kinh đều là dấu tích vận động liên quan đến sự vận động Âm dương của toàn bộ sự vật.

Âm dương và Đông y

Lý Thuyết Xuyên Suốt Vũ Trụ Âm Dương Trong Thuật Phong Thủy
Lý Thuyết Xuyên Suốt Vũ Trụ Âm Dương Trong Thuật Phong Thủy

Quan niệm về Âm dương sớm đã được vân dụng trong lĩnh vực Đông y Trung Quốc, Thời kỳ Xuân thu Chiến quốc. Trong Đông y học, khái niệm về Âm dương được sử dụng khá rộng rãi, hàm nghĩa cũng hoàn toàn không tương đồng, chủ yếu có bốn nội dung sau:
–   Thứ nhất, sử dụng Âm dương để biểu thị thuộc tính của các bộ phận của tạng phủ, tổ chức. Ví dụ lấy tạng chỉ âm, lấy phủ chỉ dương; huyết chỉ âm, khí chỉ dương; lưng chỉ dương, bụng chỉ âm…
–   Thứ hai, dùng Âm dương nói rõ sự biến đổi bệnh lý và chức năng sinh lý. Chức năng sinh lý ví dụ như âm huyết chủ yếu để tổ chức bồi dưỡng và làm ấm, dương khí chủ yếu để ủ ấm và cố định các bộ phận của cơ thể. Thận âm và thận dương có quan hệ tương hỗ với nhau, gọi là Âm dương hỗ cân. Sự biến hoá về bệnh lý, ví dụ như âm tà nội thành hoặc dương khí hư tổn đều có biểu hiện lạnh run, dương tà thành thực hoặc Âm dương hao tổn đều có biểu hiện nóng ran; biểu hiện lạnh và nóng dưới sự chuyển biến nhất định gọi là chuyển hoá Âm dương.
–   Thứ ba, dùng Âm dương trong trị liệu và chẩn đoán. Chẩn đoán như biểu hiện bên trong, lạnh, nóng, suy, thực và các triệu chứng khác, sự khác biệt giữa âm chứng và dương chứng. Trị liệu như sử dụng phương pháp bổ âm để trị dương nhiệt, dùng phương pháp ôn dương để làm tiêu tan đi hàn âm, gọi là thuốc trị liệu Âm dương.
–   Thứ tư, dùng Âm dương phân biệt tính năng của các loại thuốc. Ví dụ: dùng các loại thuốc có tính năng nóng ấm, cay gọi là dương; dùng các loại thuốc mang tính lạnh, mát, hay có thuộc tính chua (thôi thổ), tiết (tả) gọi là âm.
Âm dương trong Đông y Trung Quốc dùng để nói rõ chức năng sinh lý của tạng phủ, kinh lạc, bệnh lý. Nội dung có các tư tưởng biện chứng tự phát và các yếu tố biện chứng duy vật, là một trong những cơ sở lý luận của y học gia truyền, có ý nghĩa quan trọng đối với y học lâm sàng.

Làng nghề Cát Đằng cung cấp thông tin chi tiết về bài viết
Lý Thuyết Xuyên Suốt Vũ Trụ Âm Dương Trong Thuật Phong Thủy
Tên bài báo
Lý Thuyết Xuyên Suốt Vũ Trụ Âm Dương Trong Thuật Phong Thủy
Thông tin mô tả chi tiết
Từ xưa đến nay , nói đến Ngũ hành tất phải nói đến Âm dương và ngược lại.Học thuyết Âm dương và học thuyết Ngũ hành là hai bộ phận cấu thành triết học cổ đại của Trung Quốc
Nhà báo
Bản quyền nội dung
Làng Nghề Cát Đằng
Logo
Hotline: 0353.247.247
Chat Facebook
Gọi điện ngay