42 lượt xem

Diễn Dịch Vạn Vật Bát Quái Trong Phong Thủy

Diễn Dịch Vạn Vật Bát Quái Trong Phong Thủy

(Bát quái, một dấu hiệu thần bí, cổ nhân dùng để diễn dịch vạn vật, xem bói may rủi, dự đoán tương lai. Hãy cùng Làng Nghề Cát Đằng tìm hiểu về bát quái trong phong thủy

Hà đồ, Lạc thư

Hà đồ và Lạc thư là hai bức tranh tư liệu quý báu, là cơ sở hình thành Bát quái. Sách Dịch kinh, Hệ từ truyện nói: “Hà xuất đồ, Lạc xuất thư, thánh nhân tác chi”

Diễn Dịch Vạn Vật Bát Quái Trong Phong Thủy
Diễn Dịch Vạn Vật Bát Quái Trong Phong Thủy

Sự phân phối các số trong Hà đồ lấy số từ 1 đến 10, 1 và 6 phía dưới, 2 và 7 phía trên, 3 và 8 bên trái, 4 và 9 bên phải, 5 và 10 ở giữa. Theo phương vị mà nói, con người đứng đối diện với phía Nam, vì thế phía trên là Nam, là lửa. Phía dưới là Bắc, là nước. Phía trái là Đông, là Mộc. Phía phải là Tây, là kim. Ở giữa là Thổ, sự khác biệt tương đối giữa hai số là 5 ngoài, số 5 ở giữa, còn có các số lẻ 1, 3, 7, 9, các số chẵn 2, 4, 6, 8, đều tuân theo sự sắp xếp phương hướng, có 10 số, tổng cộng là có 55 số.
Lạc thư lấy các số từ 1 đến 9 để sắp xếp thành phương vị con rùa là đội 9 dẫm 1; trái 3 phải 7; 2, 4 là vai; 6,8 là chân; 5,10 ở giữa.
Sự sắp xếp các số trong Lạc Thư và Hà đồ là giống nhau, cùng 5 số lẻ ở giữa, 1 phía Bắc, 3 phía Đông, 9 phía Nam, 7 phía Tây. Các số chẵn chiếm tứ ngung, ngoài số  5 ở giữa hai số tương đối ở tứ ngưng và 4 mật đều lớn hơn 10, có 9 tổ số , tổng số 4 mặt là 40, 5 ở giữa phía trên, tổng số là 45.
Hà đồ và Lạc Thư so sánh với nhau, hai thứ này trong ba phương diện trên là tương đồng với nhau. Thứ nhất, Hà đồ và Lạc thư đều lấy âm số dương 5 làm số giữa; thứ hai là, số lẻ 1 và 3 ở tất cả các phương vị đều tương đồng; thứ ba là, hai cái này đều có sự khác biệt giữa các số chẵn 2, 4, 6, 8 là:2, 4, 6, 8 ở Hà đồ là tuân thủ theo sự vận động, còn ở Lạc Thư là dựa theo nguyên tắc đầu tiên đi ngược chiều từ 2 đến 4, sau đi thuận chiều từ 6 đến 8.
Việc coi Hà đồ và Lạc Thư là do long vương và thần rùa giáng truyền. Thực tế đó là một thần thoại, là sự vay mượn của dân gian, đã tạo nên màu sắc thần bí.

Thái cực và Bát quái

Sách Dịch kinh, Hệ từ thượng bàn đến quá trình sản sinh Bát quái viết rằng:
“Dịch hữu đại cực, là sinh lưỡng nghĩa, lưỡng nghĩa sinh tứ tượng, tứ tượng sinh Bát quái, Bát quái định cát hung, cát hung sinh đại nghiệp”, đại ý là: dịch có thái cực, thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh Bát quái, Bát quái định cát hung, cát hung thành nghiệp vậy.

Diễn Dịch Vạn Vật Bát Quái Trong Phong Thủy
Diễn Dịch Vạn Vật Bát Quái Trong Phong Thủy

Lý luận của hậu thế căn cứ trên sự hình thành của Bát quái phát triển rất nhiều học thuyết. “Đại cực” còn gọi là thái cực, là lúc Âm dương chưa phân, thời kỳ trái đất còn hỗn loạn, từ đó mới hình thành vạn vật. “Đại cực” mang ý nghĩa là đạt đến cực điểm.
Thái cực theo sự giải thích của sách Chính nghĩa là: “Đại cực vị thiên địa vi phân chi tiền nguvên khí hỗn nhi vi nhất, tức thị thái sơ, thái nhất dã”, đại ý là: đại cực là nguyên khí hỗn mang lúc trời đất chưa phân, tức là buổi sơ khai, thái là một thể duy nhất vậy. Thái cực trong Dịch kinh, Hệ từ thượng không có hình vẽ. Cho đến thời Tống mới xuất hiện một hình vẽ nó. Hĩnh vẽ của thái cực cổ không có chữ viết để giải thích, chỉ là một hình tròn to mang ý nghĩa là hai con cá Âm dương, mỗi con cá Âm dương đều có mắt.
Thái cực phân Âm dương, từ đây hình thành vạn vật trong trái đất. Sự phân thành Âm dương được gọi là “lưỡng nghi”. “Nghi” nghĩa là dung nạp.
Do lưỡng nghi sinh ra tứ tượng. Đối với tứ tượng, có rất nhiều cách giải thích khác nhau. Quan điểm cho rằng tứ tượng là tứ thời; có người lại cho rằng tứ tượng là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, hoặc chỉ âm, dương, cương, nhu, là lấy “lưỡng nghi” tổ hợp thành lão dương nhị, lão âm nhị, thiếu dương nhị, thiếu âm nhị…
Do tứ tượng sản sinh ra Bát quái tượng tưng cho trời, đất, nước, lửa, gió, sấm, núi, sông ngòi, bao gồm vạn vật của vũ trụ, từ đó người Trung Quốc nhận định sự may rủi, hướng lành tránh dữ, sự nghiệp lớn cũng từ đó mà sản sinh ra.
Sách Chính nghĩa của Khổng Dĩnh Đạt thời Đường cho rằng nguyên khí căn nguyên của vũ trụ cũng gọi là đại dương, lấy “nhất” biểu thị quá trình suy diễn từ thái cực đến Bát quái như sau:

Diễn Dịch Vạn Vật Bát Quái Trong Phong Thủy
Diễn Dịch Vạn Vật Bát Quái Trong Phong Thủy

 

Diễn Dịch Vạn Vật Bát Quái Trong Phong Thủy
Diễn Dịch Vạn Vật Bát Quái Trong Phong Thủy

Trong sách Thiên nguyên phát vi của Bào Vân Long thời nhà Tống, căn cứ vào Địch, Hệ từ thượng, liên quan đến quá trình hình thành Bát quái, cũng vẽ một biểu đồ:

Diễn Dịch Vạn Vật Bát Quái Trong Phong Thủy
Diễn Dịch Vạn Vật Bát Quái Trong Phong Thủy

Người xem phong thủy hiện nay lấy quá trình hình thành Bát quái vẽ ra hình dưới đây.

Diễn Dịch Vạn Vật Bát Quái Trong Phong Thủy
Diễn Dịch Vạn Vật Bát Quái Trong Phong Thủy

Tiên thiên Bát quái và Hậu thiên Bát Quái

Trong khi Dịch kinh được lưu truyền đến đời nhà Tống. Các học giả đời thời đó đã dựa vào hai đoạn văn trong Dịch kinh, Thuyết quái, liên hệ và tìm ra sự tương ứng Tiên thiên Bát quái và hậu thiên Bát quái bằng biểu đồ.
Tiên thiên Bát quái đồ cũng gọi là Phục Hy Bát quái đồ, đó cũng chính là hình vẽ Bát quái thường gặp ngày nay.

Diễn Dịch Vạn Vật Bát Quái Trong Phong Thủy
Diễn Dịch Vạn Vật Bát Quái Trong Phong Thủy

Học giả Thiệu Ung, người nhà Tống đối với điều này đã giải thích rằng: “Càn Nam, Khôn Bắc, Ly Đông, Khảm Tây, Chấn Đông Bắc, Tôn Tây Nam, Đoài Đông Nam, Cấn Tây Bắc. Từ Chấn tới Càn là thuận, từ Tốn tới Khôn là nghịch”.
Bạo Vân Long, học giả Tông dựa vào đoạn văn trong sách Dịch kinh, Thuyết quái, trong sách Thiên nguyên phát vi nổi tiếng, đã vẽ ra bản đồ Phương vị Phục Hy Bát quái.

Diễn Dịch Vạn Vật Bát Quái Trong Phong Thủy
Diễn Dịch Vạn Vật Bát Quái Trong Phong Thủy

Các hiện tượng trong vũ trụ do đó mà trở lại như ban đầu, tuần hoàn không ngừng, vì vậy, hình vẽ Bát quái trở thành hình tròn.
Tiên thiên Bát quái là do từ 1 đến 4, nghịch hướng kim đông hồ, theo trật tự là Càn, Đoái, Ly, Chấn tứ quái. Càn tượng trưng cho trời, hướng trên nhất, cũng là hướng Nam. Bắt đầu từ 5 đến 8, thuận theo hướng của kim đồng hồ, theo trật tự là Tôn, Khảm, Cấn, Khôn tứ quái. Khôn tượng trưng cho đất, hướng  thấp nhất, cũng gọi là phương Bắc.
Các nhà phong thủy ngày nay lấy Tiên thiên Bát quái phối với Lạc thư, vẽ thành hình như dưới đây:

Diễn Dịch Vạn Vật Bát Quái Trong Phong Thủy
Diễn Dịch Vạn Vật Bát Quái Trong Phong Thủy

Hậu thiên Bát quái lấy phương vị và mùa màng để nói rõ hiện tượng Bát quái. Hậu thiên Bát quái xuất phát từ Dịch kinh, Thuyết quái như lời trần thuật dưới đây: “Vạn vật xuất vu Chấn, Chấn, Đông phương dã. Tề hồ Tốn, Tốn, Đông Nam dã, tề dã giả, ngôn vạn vật chi kết tế dã. Ly giả dã, minh dã, vạn vật giai tương kiến, Nam phương chi quái dã. Thánh nhân nam diện nhi thính thiên hạ, hướng minh nhi trị, cái thủ chư thử dã. Khôn giả dã, địa dã, vạn vật giai trí dưỡng yên, cổ nhật trí địch vu Khôn. Đoài, chính thu dã, vạn vật chi sở thuyết dã, cố nhật thuyết ngôn vu Đoài, chiến vu Càn. Càn, Tây Bắc chi quái dã, ngôn Âm dương tương báo dã. Khảm giã, thủy dã, chính Bắc phương chi quái dã, lao quái dã, vạn vật chi sở quy dã, cố nhật lao vu Khảm. Cấn, Đông Bắc chi quái dã, vạn vật chi sở thành. Chung nhi sơ thành sử dã, cố nhật thành ngôn vu Cấn”. Theo cách nói của sách Dịch kinh, Thuyết quái là thiên đế mặc dù là chúa tể sáng tạo nhưng do Chấn quái bắt đầu tạo ra vạn vật, bởi vì Chấn quái tiêu biểu cho hướng Đông, mặt trời từ hướng Đông nhô lên, soi sáng vạn vật, dựa theo mùa vụ mà nói, Chấn quái tương ứng với mùa xuân, vạn vật sinh sôi. Đến Tốn quái, vạn vật đã ngăn nắp trật tự, bởi vì Tốn quái đại diện cho hướng Đông Nam. Lúc này mặt trời đã bắt đầu nhô lên, chiếu sáng hướng Đông Nam, làm cho vạn vật trở nên xanh tươi rõ ràng, sinh trưởng nhất loạt. Dựa theo mùa vụ mà nói, Tốn quái tương ứng với thời điểm giữa mùa xuân và mùa hạ. Ly quái tượng trưng cho ánh sáng mặt trời, vào thời điểm giữa ngày, chiếu rọi hướng Nam, ,làm cho vạn vật trở nên rõ ràng đều có thể nhìn thấy, là đại diện cho quẻ phía Nam. Dựa theo mùa màng mà nói, Ly quái tương ứng với mùa hạ. Thánh nhân trở thành hoàng đế, ngồi ở hướng Bắc, ngoảnh mặt nhìn hướng Nam, lắng nghe những chuyện công việc của thiên hạ, tượng trưng cho ánh sáng mặt trời, bình trị thiên hạ, tạo điều luật cho Ly quái. Khôn quái tượng trưng cho đất, nuôi dưỡng vạn vật, cho nên nói chúa sáng chế lấy sứ mệnh này giao phó cho đất. Lấy phương vị mà nói, Khôn quái đại diện cho hướng Tây Nam; lấy mùa vụ mà nói, Khôn quái là thời điểm giữa mùa xuân và mùa thu. Đoài quái tượng trưng cho mùa thu, chính là lúc mặt đất kết giao, vạn vật xanh tươi tươi tốt. Theo phương vị mà nói, Đoài quái tương ứng với hướng Tây. Chúa sáng chế trong thời khắc Càn quái, đã phát sinh ra hiện tượng đấu tranh, bởi vì Càn quái đại diện cho hướng Tây Bắc, mặt trời lặn về hướng Tây, sáng và tối, âm và dương, đúng trong lúc thay thế hỗn loạn. Dựa theo mùa màng mà nói, Càn quái tương ứng với thời điểm giữa Thu và Đông. Khảm quái tượng trưng cho nước, nước chảy không ngừng, chỉ sự vất vả lao khổ. Từ phương vị mà nói, Khảm quái đại diện cho hướng Bắc, ánh sáng mặt trời từ hướng này đã hoàn toàn tắt, chỉ còn lại một mảng tối, chính là lúc mà vạn vật đã mệt mỏi, là lúc trở về nghỉ ngơi; dựa theo mùa vụ mà nói, Khảm quái tương ứng với mùa Đông. Cấn quái đại diện cho phương Đông Bắc. Tại phương này, trong lúc bình minh, bóng tối tan đi, ánh sáng mặt trời bắt đầu chiếu đến. Vạn vật đến thời khắc này là đã trôi qua một ngày, đồng thời cũng là bắt đầu một ngày mới. Có thể nói, trong Cấn quái hoàn tất mọi việc; lấy mùa vụ mà nói, Cấn quái tương ứng với thời điểm Đông Xuân.
Các học giả đời nhà Tống dựa vào đoạn mô tả trên, vẽ ra Hậu thiên Bát quái đồ hay còn gọi là Văn vương Bát quái đồ.

Diễn Dịch Vạn Vật Bát Quái Trong Phong Thủy
Diễn Dịch Vạn Vật Bát Quái Trong Phong Thủy

Trong sách Thiên nguyên phát vỉ, Bạo Vân Long cũng đánh dấu thêm phương vị cho Hậu thiên Bát quái, vẽ thành hình Văn vương Bát quái phương vị như dưới đây.

Diễn Dịch Vạn Vật Bát Quái Trong Phong Thủy
Diễn Dịch Vạn Vật Bát Quái Trong Phong Thủy

Các nhà phong thủy hiện đại liên hệ giữa Hà đồ và Lạc thư vẽ ra Hà thư phối hậu thiên Bát quái.

Diễn Dịch Vạn Vật Bát Quái Trong Phong Thủy
Diễn Dịch Vạn Vật Bát Quái Trong Phong Thủy

Diễn dịch Bát quái

Dịch kinh lấy 64 quẻ làm chủ, 64 quẻ này lại lấy 8 quẻ làm cơ bản.
Liên quan đến ý nghĩa của quái, sách Dịch thích thời nhà Hán có sự giải thích như sau: “Quái giả, quải dã, ngôn huyền quái vật tượng dĩ thị vu nhân, cố vị chi quái”. Kỳ thực, “quái” thành “quải” là cách đọc thuận miệng, chữ quải không có nghĩa “treo đồ vật”.
Có học giả căn cứ vào sách Dịch kinh, Hệ từ: “Cổ tác Bào Hi thị chi vương thiên hạ dã, ngưỡng tắc quan tượng vu thiên, phủ tắc quan pháp vu địa, quan điều thú chi văn dữ Địa chi nghi, cận thủ chư thân, viện thủ chư vật. Vu thị thủy tác Bát quái, dĩ thông thần minh chi đức, dĩ loại vạn vật chi tình”, (đại ý xưa Bào Hi làm vua, ngước lên xem quan tượng cửa trời, cúi nhìn phép đất, xem sự thích nghi của đất và vằn muông thú, gần thì cơ thể người, xa thì muốn vật, từ đó lập thành Bát quái để thông đức thần minh, phân loại tình của vạn vật), Với sách Quản tử, Phục Hi chế cửu số… cho rằng dự đoán quái có khả năng là dấu hiệu đầu tiên dùng để bói các hoạt động của con người.
Bát quái là chỉ 1, Càn quái chỉ 2, Khôn quái chỉ 3, Chấn quái chỉ 4, Càn quái chỉ 5, Ly quái chỉ 6, Khám quái chỉ 7, Đoài quái chỉ 8, Tôn quái chỉ 9. Để hoc thuộc và ghi nhớ 8 quái, thời xưa có câu:
Càn tam liên, Khôn lục đoàn, Chấn ngưỡng vu, Cấn phúc uyên, Ly trung hư, Khảm trung mãn, Đoài thượng khuyết, Tốn hạ đoạn. (Càn vạch liên, Khôn 6 vạch, Chấn bất nghĩa, Cấn bát úp, Ly rỗng giữa, Khảm đầy giữa, Đoài đứt trên, Tốn đứt dưới).
Từ quẻ tượng cho thấy, sự biến hoá của Bát quái là cứ hai cặp tương ứng có thể phân thành 4 cặp, là: Càn Khôn, Chấn Cấn, Ly Khảm, Đoài Tốn.

Lấy hai quẻ bất kỳ trong 8 quẻ, tiếp tục tổ hợp lại thì có 64 quẻ:

Diễn Dịch Vạn Vật Bát Quái Trong Phong Thủy
Diễn Dịch Vạn Vật Bát Quái Trong Phong Thủy

Càn, Khôn, Truân, Mông, Nhu, Tụng, Sư, Tị, Tiểu súc, Lí, Thái, Bĩ, Đồng nhân, Đại hữu, Khiêm, Dự, Tuỳ, Cổ thứ, Lâm, Quán, Phệ hạp, Bí, Bác, Phục, Vô vọng, Đại súc, Di, Đại quá, Khảm, Li, Hàm, Hằng, Độn, Đại tráng, Tấn, Minh di, Gia nhân, Khuê, Kiển, Giải, Tốn, ích, Quái, Cấu, Tụy, Thăng, Khôn, Tỉnh, Cách, Đỉnh, Chấn, Cấn, Tiệm, Qui muội, Phong, Lữ, Tốn, Đoài, Hoán, Tiết, Trung phu, Tiểu quá, Kí tế, Vị tế.
Trong hơn 64 quẻ, quẻ thứ nhất của mỗi loại đều được lấy ra từ những quẻ giống nhau trùng điệp trong Bát quái mà thành. Vì vậy vẫn dùng nguyên tên Bát quái. Tên gọi của các quẻ khác, hoặc là tên gọi của hình trạng các bức  vẽ Bát quái, như quẻ Di, bốn hào ở giữa hình dạng rất giống với răng ở trong miệng của con người, tên cũ gọi là “di”; hay như quẻ Phệ hạp, hình vẽ rất giống miệng đang ngậm đồ vật, tên cũ gọi là “phệ hạp”; hay lấy ý nghĩa trong thượng quái và hạ quái để đặt tên như: quẻ Đỉnh, thượng quái là Li, nghĩa là hỏa, hạ quái Tôn, nghĩa là gió, mang ý nghĩa gió thổi bếp lò, ngày xưa dùng đỉnh để hầm thức ăn, tên cũ gọi là “đỉnh”; hoặc kết hợp ý nghĩa của thượng quái và hạ quái thành ý nghĩa mới như quẻ Quan, thượng quái Tốn nghĩa là gió, hạ quái là Khôn, nghĩa là đất, gió thổi trên đất, phong cảnh thanh quan, tên cũ gọi là “quan”; lại như quẻ ích, thượng quái Khảm là nước, hạ quái Chấn là sấm, động, nước động tất tràn, tên cũ gọi là “ích”(Hán tự cũ có bộ thủy); hoặc là tương phản với ý nghĩa của thượng quái và hạ quái, quẻ Bĩ, quẻ Thái, quẻ Bĩ có thượng quái Càn, hạ quái Khôn vì trời trên đất ở dưới nên không giao nhau dẫn tới bĩ cực, ngược lại ở quẻ Thái thương quái Khôn mà hạ quái Càn nên trời đất tương giao nên muốn vật thái hoà. Nói tóm lại từ Bát quái mà diễn dịch 64 quẻ thì vô cùng phức tạp.
Kết cấu của 64 quẻ là do hai vạch hào đứt và liền, phân bố lần lượt từ trên xuống dưới cấu tạo thành. Thuộc tính của vạch liền tiêu biểu cho dương,  cương, nam, quân, cường và số  lẻ tượng trưng cho những mặt tích cực của vạn vật; thuộc tính của vạch đứt tiêu biểu cho âm, nhu, nữ, thần, nhược và các số chẵn tượng trưng cho sự tiêu cực của vạn vật. Trong phần giải thích ý nghĩa quẻ trong sách Dịch kinh, Dịch truyện, chúng ta có thể thấy dùng nhiều trong dụng ngữ cương và nhu, hoặc là âm và dương. Vì thế vạch liền gọi là cương hào, dương hào; vạch đứt gọi là nhu hào hay âm hào.
Vạch liền có thuộc tính dương cương, tích cực, độc lập, dùng các số lẻ 1,3, 5, 7, 9, trong đó lấy số lớn nhất là 9 làm đại diện, gọi là cửu. Vạch đứt có thuộc tính âm nhu, tiêu cực, phụ thuộc, dùng thành các số chẵn đỗi ngẫu 2, 4, 6, 8, 10, lây số 6 ở giữa làm đại diện, gọi là lục.
Cấu tạo của quái là do từ dưới lên trên, vị trí dưới nhất gọi là sơ, thứ tự từ dưới lên, gọi là sơ lục, sơ cửu, nhị, tam, tứ, ngũ, vị trí cao nhất gọi là: thượng, thượng lục: hào trên cùng âm, thượng cửu: hào trên cùng là dương.

Diễn Dịch Vạn Vật Bát Quái Trong Phong Thủy
Diễn Dịch Vạn Vật Bát Quái Trong Phong Thủy

Ví dụ, quẻ thứ nhất bắt đầu là quẻ Càn, là cương hào, sáu hào từ dưới lên trên gọi là: sơ cửu, cữu lưỡng, cửu tam, cửu tứ, cửu ngũ, thượng cửu; quẻ thứ hai là quẻ Khôn, là nhu hào, sáu hào từ dưới lên trên, gọi là sơ lục, lục nhị, lục tam, lục tứ, lục ngũ, thượng lục, hay quẻ thứ ba là quẻ Đồn, sáu hào từ dưới lên trên, gọi là sơ cửu, lục nhị, lục tam, lục tứ, cửu ngũ, thượng lục…
Trong hai quẻ Càn, Khôn, ngoài sáu hào có hình, còn có dụng cửu, dụng lục vô hình, đây là một ví dụ, trong các quẻ khác, đều có sáu hào từ sơ đến thượng.
Do cấu tạo phụ của 64 quẻ, lấy ba hào trên dưới thành một tổ. Ba hào ở phía trên gọi là thượng quái hoặc ngoại quái; Ba hào phía dưới gọi là hạ quái hay là nội quái. Cạnh bên phải của sáu hào trong sách Dịch kinh, phần chú thích đều nói rõ tên gọi của phần trên dưới.
Bát quái không chỉ là một loại ký hiệu, còn dùng để tượng trưng cho các loại sự vật. Lúc đầu, Bát quái chỉ là tượng trưng cho trời, đất, sấm, núi, lửa, nước, sông ngòi, gió và các hiện tượng tự nhiên khác, sau đó dùng để tượng trưng cho các sự vật. Trong sách Dịch kinh, Thuyết quái đều đã giải thích rõ. Sự vật thường gặp mà Bát quái tượng trưng như sau:
Tên quẻ: Càn, Khôn, Chấn, Tốn, Khảm, Li, Cấn, Đoài
Tự nhiên: Trời, đất, sấm, gió, cây, nước, mưa, lửa, mặt trời, núi, sông ngòi.
Người: Bố mẹ, con trai cả, con gái cả, con trai thứ, con gái thứ, con trai út, con gái út.
Thuộc tính: Khỏe mạnh, thuận, động, nhân, lõm, hãm, phụ, dừng, vui mừng.
Động vật: Ngựa, trâu, rồng, gà, lợn, chim trĩ, chó, dê.
Bộ phận cơ thể: Đầu, bụng, chân, đùi, tai, mắt, tay, miệng.
Phương vị: Tây Bắc, Tây Nam, Đông, Đông Nam, Bắc, Nam, Đông Bắc, Tây.
Mùa vụ: Giữa Thu Đông, giữa Hạ Thu, Xuân, giữa Xuân Hạ, Đông, Hạ, giữa Đông Xuân, Thu.

Cách bói Bát quái

Bát quái là ký hiệu quẻ tượng được hình thành để bói toán của người xưa. Cổ nhân trong khi bói toán, đã chuẩn bị 50 nhánh cỏ dài 1 – 2 phân. Các nhà phong thủy ngày nay đã dùng trúc để thay thế, và còn ghi chép lại bằng giấy và bút.
Có nhiều phương pháp bói Bát quái, dưới đây xin giới thiệu một trong những phương pháp thường gặp, có ba phương pháp: phương pháp chính thức, phương pháp đơn giản và phương pháp ném tiền.

Phương pháp chính thức

Diễn Dịch Vạn Vật Bát Quái Trong Phong Thủy
Diễn Dịch Vạn Vật Bát Quái Trong Phong Thủy

Chuẩn bị 50 ngọn cỏ, đầu tiên lấy ra một nhánh nhưng không dùng đến, để nguyên. Nhánh này tượng trưng cho trời đất phân khai ra thái cực.
49 nhánh còn lại tuỳ ý phân chia, phân biệt những nhánh cầm bên tay phải và những nhánh cầm bên tay trái. Những nhánh cầm bên tay trái tượng trưng cho trời, những nhánh cầm bên tay phải tượng trưng cho đất.
Rút một nhánh bên tay phải ra, kẹp ở giữa ngón tay út và ngón đeo nhẫn bên tay trái, tượng trưng cho con người.
Bỏ những nhánh cỏ bên tay phải xuống, dùng tay phải đếm những nhánh cỏ bên tay trái, cứ 4 nhánh một số, tượng trưng cho bốn mùa, cuối cùng còn sót lại 4 nhánh hay là dưới 4 nhánh, kẹp vào giữa ngón tay giữa và ngón đeo nhẫn bên tay trái, tương trưng cho tháng nhuận.
Sau đó mới dùng các số nhánh cỏ bên tay trái vừa mới đếm đặt vào bên tay phải, cũng bốn nhánh một số, cuối cùng thừa lại bốn nhánh hay ít hơn bốn nhánh, kẹp vào giữa ngón giữa và ngón trở.
Nhánh mà kẹp ở ngón út bên tay trái, lấy 1 nhánh và các nhánh còn sót lại bên tay trái và tay phải hợp lại nhất định phải có 9 nhánh hoặc là 5 nhánh. Đây là lần đổi thứ nhất.
Vứt bỏ 9 nhánh hay 5 nhánh còn sót lại trong lần đổi thứ nhất đi, dùng lại 40 hay 44 nhánh còn lại, dựa theo cách chia lần thứ nhất, cũng phân tuỳ ý sang bên tay trái và phải.
Cũng như cách trên, từ tay phải rút ra 1 nhánh, kẹp ở giữa ngón út và ngón đeo nhẫn bên tay trái, sau đó phân các nhánh sang bên phải và trái, cứ 4 nhánh 1 số, lại lấy các nhánh còn lại của hai bên, thêm 1 nhánh vào ngón tay út, tổng hợp lại nhất định sẽ có 8 hoặc 4 nhánh. Đây là lần đổi thứ hai.
Lại vứt bỏ 8 nhánh hay 4 nhánh này thì sẽ đạt được vị trí của Bát quái ở phía dưới nhất, cũng là mở đầu cho sơ hào. 9 hay 5 nhánh còn lại trong lần đổi thứ nhất, lần đổi thứ hai và thứ ba đều còn thừa lại 8 hay 4 nhánh, 9 và 8 là số nhiều, 5 và 4 là số ít.
Nếu trong 3 lần đổi mà có hai lần là số nhiều, 1 lần là số ít, thì 9, 4, 8, 9, 8, 4 hay là 5, 8, bát thời, gọi là thiếu dương, cũng gọi là đơn. Cái gọi là dương hào ghi nhớ lại thành vạch liền mà hai là nhiều, một là ít, ghi là vạch liền.
Nếu trong lần đổi mà có 2 lần số ít, 1 lần số nhiều, thì 5, 4, 8, 5, 8, 4 hay 9, 4, tứ thời, gọi là thiếu âm, cũng gọi là sách. Cái gọi là hào âm ghi nhớ lại thành vạch đứt, mà là ít, hai là nhiều, ghi là vạch đứt.
Nếu 3 lần đều là số ít, thì 5, 4, tứ thời gọi là lão dương, tên đơn giản là trùng, là hào dương. Nhưng cũng có thể biến thành hào âm, ghi thành nhưng 3 là ít, nên ghi thành: □
Nếu 3 lần đều là số nhiều thì 9, 8, bát thời gọi là lão âm, tên đơn giản là giao, là hào âm, nhưng cũng có thể biến đổi thành dương, ghi lại thành ×, nhưng 3 là nhiều nên ghi là:×
Lão âm và lão dương có thể biến đổi, gọi là hào biến, thiếu âm và thiếu dương không thể thay đổi, gọi là hào bất biến. Từ số từ cho thấy, lão âm là lục, lão dương là cửu, chính là sơ lục, sơ cửu. Trong kinh văn, lục hay cửu đối lập nhau, thiếu âm là bát, thiếu dương là thất. Nguyên tắc trên được đơn giản hoá như sau:
Số dư: Lưỡng đa nhất thiếu, lưỡng thiếu nhất đa, tam thiếu, tam đa
Thuộc tính: thiếu dương(bất biến hào của dương), thiếu âm (hào âm không biến), lão dương (biến hào của dương), lão âm (biến hào của âm).
Số biểu thị: 7, 8, 9, 6
Ký hiệu ghi nhớ: -,..,□×
Sau khi ba lần biến đạt được sơ hào, cũng dựa theo cách trên, lại làm 5 lần tính 15 biến, thì có thể đạt được năm hào còn lại. Nhưng cũng phải chú ý, trong lúc ghi nhớ các dấu hiệu của phụ, nhất định phải tuân theo thứ tự của sơ, nhị, tam, tứ, ngũ, thượng, từ dưới lên trên.
Giả định, sau khi trải qua đúng 18 biến, tất cả các số dư thu được là 9, 8, 4, 5, 8, 8, 9, 4, 8, 9, 4, 4, 9, 8, 8, 5, 8, 4… và 6 tổ số, quẻ được ghi thành (=), hào 5 × thuộc lão âm, là một biến hào của âm, trong lúc là hào âm, quẻ đạt được là quẻ Thái. Nhưng lão âm trong hào thứ 5, lúc biến thành hào dương, quẻ đạt được là quẻ Nhu, gọi là Thái chi Nhu. Lúc này, quẻ Thái là bản quái, quẻ Nhu là chi quẻ. Để trả lời nội dung bói, thì phần Hào từ của hào biến trong bản quái, như hào 5 của quẻ Thái là đáp án bói. Nhưng để giải thích được tính chất chính thể của quẻ, còn phải tham chiếu đối ứng với phần Quái từ trong Dịch kinh.
Ví dụ như các quẻ Nhu, quẻ Thái nói trên, không chỉ có 1 hào biến, mà còn trong các hoạt động bói toán, còn hay gặp bao nhiều các hào biến. Khi gặp một quẻ bói mà xuất hiện các biến hào, có thể dựa vào sở luận Dịch học khải mông của Chu Tử, lúc có 2 biến hào, thì sẽ thấy 2 biến từ của bản quái.

Phương pháp bói thô sơ

Diễn Dịch Vạn Vật Bát Quái Trong Phong Thủy
Diễn Dịch Vạn Vật Bát Quái Trong Phong Thủy

Trong 50 nhánh cỏ, đầu tiên lấy ra một nhánh làm thái cực.
49 nhánh còn lại tuỳ ý phân thành 2 nửa, phân biệt bằng cách cầm sang tay trái và tay phải. Từ tay phải rút ra 1 nhánh, kẹp giữa ngón út và ngón đeo nhẫn của tay trái.
Dùng tay phải đếm số cỏ bên tay trái, cứ 8 nhánh 1 số, đếm hết không bớt nhánh nào. Lấy 1 nhánh trên ngón út bên tay trái, coi đó là quẻ Càn. Nếu như có số dư, thì lấy số cỏ còn lại thêm vào 1 nhánh trên ngón út bên tay trái, gộp lại thành 2 thời, coi đó là quẻ Đoài; gộp lại thành 3 thời, coi đó là quẻ Ly; gộp lại thành 4 thời, coi đó là quẻ Chấn; gộp lại thành 5 thời, coi đó là quẻ Tôn; gộp lại thành 6 thời, coi đó là quẻ Khảm; gộp lại thành 7 thời, coi đó là quẻ Cấn; gộp lại thành 8 thời, coi đó là quẻ Khôn. Như vậy chỉ qua một lần biến là có thể đạt được quẻ bói.
Lại dùng 49 nhánh còn lại dựa theo cách làm như lần biến thứ nhất thì có thể đạt được quẻ trên.
Cách làm đơn giản này, không thể xuất hiện biến hào. Để đạt được biến hào, lại dùng 49 nhánh có tuỳ ý phân chia thành 2 nửa, phân hai bên tay trái và tay phải. Rút 1 nhánh từ tay phải, kẹp giữa ngón út và ngón đeo nhẫn bên tay trái, dùng tay phải đếm số cỏ bên tay trái, 6 nhánh 1 lần, đếm liên tục, rút 1 nhánh trên ngón út bên tay trái, coi là sơ hào. Nếu như còn thừa nhánh cỏ nào, thì thêm 1 nhánh vào ngón út tay trái, gộp lại thành 2 thời gọi là hào thứ hai. Từ đó rút ra 3 là hào thứ ba, 4 là hào thứ bốn, 5 là hào thứ năm, 6 là thượng hào. Trong lần biến này, số hào đạt được là lớn hơn 1, 2 biến thì sẽ đạt được biến hào của quẻ bói, cuối cùng lấy Hào từ của biến hào để giải thích kết quả đạt được của quẻ bói.

Phương pháp ném tiền

Ném tiền là phương pháp bói dùng tiền đồng chứ không phải là dùng nhánh cỏ. Đây là phương pháp bói chỉ cần dùng 3 tấm tiền đồng, đã bỏ được đi phương pháp dùng 50 ngọn cỏ phức tạp.
Dựa theo ghi chép trong sách Lễ nghi chính văn, Sỹ quan lễ, phương pháp bói dùng tiền đồng như sau:
Ném 3 tiền đồng xuống.
Nếu như 3 tấm tiền đồng này rơi xuống đất mà có 2 tấm mặt phải, 1 tấm mặt trái, thì đó là thiếu dương –
Nếu như 3 tấm tiền đồng rơi xuồng đất mà có 2 tấm mặt trái, 1 tấm mặt phải, thì đó là thiếu âm ..
Nếu 3 tấm tiền đồng rơi xuống mà đều là mặt trái thì đó là hào biến lão dương 
Nếu 3 tấm tiền đồng rơi xuống mà đều là mặt phải thì đó là hòa biến lão
âm ×
Nếu như vậy, làm đi làm lại 6 lần thì có thể từ dưới lên trên đạt được 6 biến của quẻ. Nếu như trong 6 biến của quẻ, có trên 2 hào biến, thì có thể dùng phần giải thích quái từ trong Dịch kinh.

Các thuật ngữ thường gặp trong Bát Quái

Diễn Dịch Vạn Vật Bát Quái Trong Phong Thủy
Diễn Dịch Vạn Vật Bát Quái Trong Phong Thủy

Bát quái là gốc rễ của Dịch kinh khi tìm hiểu Bát quái, thương gặp một số thuật ngữ danh từ. Các thuật ngữ danh từ này cũng đòi hỏi người đọc dịch nhất định phải hiểu rõ:
– Tam dịch: Là chỉ có ba tác phẩm của Dịch học cổ đại, bao gồm Liên sơn, Quy tàng, Dịch kinh. Các cách nói được ghi chép lại trong thư tịch cổ đối với Tam dịch không giống nhau. Có quan điểm cho rằng sách Liên sơn là Dịch học của thời Hạ, bắt đầu bằng quẻ Cấn, tượng trưng núi lộ ra khỏi mây, cảnh tượng vô cùng hùng vĩ. Quy tàng là Dịch học của thời nhà Ân, bắt đầu bằng quẻ Khôn. Dịch kinh là dịch học đời nhà Chu, bắt đầu bằng quẻ Càn, Khôn, tượng trưng khoảng trời đất con người. Hai tác phẩm Liên sơn và Quy tàng đã bị thất truyền, Dịch kinh còn lại đến ngày nay trải qua nhiều lần bổ cứu và san định của các nhà tư tưởng và học giả. Ngoài ra còn có một quan điểm nữa, dịch học tượng số xuất hiện sau thời nhà Hán, nhà Ngụy là Liên sơn và Quy tàng.
–   Dịch kinh: Là một bộ sách bói của thời xưa. Sách Dịch kinh bao gồm hai bộ phận là bản gốc và bản thuyết minh. Bộ phận bản gốc được gọi là kinh, bộ phận thuyết minh gọi là truyện. Dịch kinh không chỉ là một tác phẩm cổ của Trung Quốc mà đến nay còn được coi là quần kinh chi thủ (đứng đầu trong các tác phẩm kinh điển cổ học).
–   Kinh: Có nghĩa đạo, là lý, là đạo lý của trời đất, là đạo lý của con người, sách giải thích rõ thiên lý, nhân đạo, là tác phẩm quyền uy nhất, cũng là cội nguồn của tất cả các chân lý. Trong Dịch kinh, Kinh là phần hào từ, quái từ của 64 quẻ.
–   Quái từ, hào từ: Sách Dịch kinh có 64 quẻ và 382 hào. Mỗi quẻ có một đoạn lời quẻ, một hào có một đoạn lời hào thì tương ứng có 64 Quái từ và 382 Hào từ. Nếu nói ẩn ý trong ký hiệu của 64 quẻ là sự tượng trưng về phù hiệu thì Quái từ và Hào từ là sự tượng trưng về ngôn ngữ văn tự. cả hai cùng phụ trợ cho nhau để biểu đạt ý nghĩa nội tại của Dịch kinh.
Truyện: Là bộ phận thuyết minh của Dịch kinh, tổng cộng có 10 thiên, gọi là thập dực. Dực nghĩa là trợ và phụ trơ giải thích ý nghĩa của từ kinh gồm có: Thoán truyện thượng hạ, Tượng truyện thượng hạ, Hệ từ truyện thượng hạ, Văn ngôn truyện, Thuyết quái truyện, Tự quái truyện, Tạp quái truyện.
–   Thập dực: Là một trước tác của Khổng Tử. Nhưng luận điểm của Thập dực có thể trải qua nhiều lần san định nên có chỗ mâu thuẫn nhau. Nhiều học giả cho rằng Thập dực không thể chỉ xuất phát từ bút tích của Khổng Tử, còn có thể là sự sáng tác của những đệ tử của Khổng tử và những tác phẩm nổi tiếng của hậu thế.
–   Thoán truyện: Là tên quẻ, lời quẻ, ý lớn của quẻ, được chia ra làm hai thiên thượng và hạ. Có quan điểm cho rằng thoán có nghĩa là đoán, đoán ý nghĩa của mỗi quẻ.
–   Tượng truyện: Được phân thành hai phần: Đại tượng truyện và Tiểu tượng truyện, dùng để chú thích tượng quẻ của các quẻ và tượng hào của các hào. Đại tượng truyện có 64 tắc chú thích tượng quẻ. Tiểu tương truyện 386 tắc chú thích tượng quẻ.
–   Hệ từ truyện: Là một đóng góp lớn đưa Dịch kinh ở góc độ bói toán lên tầm nhận thức mang tính triết học, là một thông luận về ý nghĩa của Dịch từ thời xa xưa, giải thích tương đối toàn diện về lời kinh trong Dịch kinh, được chia thành hai thiên thượng và hạ.
–   Văn ngôn truyện: Là phần thuyết minh xác đáng, toàn diện của hai quẻ quan trọng nhất Càn, Khôn trong 64 quẻ. Văn nghĩa là tu sửa, văn ngôn nghĩa là ca tụng tán dương sự vĩ đại của quẻ Càn, quẻ Khôn. Gồm có hai tiết, tiết đầu là Càn văn ngôn, tiết sau là Khôn văn ngôn.
–   Thuyết quái truyện: Là chuyên luận nói về tượng của Bát quái, như: Càn là trời, Khôn là đất, Ly là lửa, Cấn là núi, Tôn là gió… Nói về lịch sử dùng cỏ thi để đoán quẻ đặc điểm thủ tượng của Bát quái với rất nhiều các ví dụ về tượng.
–   Tự quái truyện: Nói rõ ý nghĩa và sự sắp xếp 64 quẻ. Toàn văn được chia thành hai phần, phần đầu nói về thứ tự của 30 quẻ từ quẻ Càn đến quẻ Ly, phần sau nói về thứ tự của 34 quẻ từ quẻ Hàm đến quẻ Vị tế.
–   Tạp quái truyện: Là đặc điểm của mỗi quẻ trong 64 quẻ, lấy 2 quẻ tương phản về tính chất thành 1 đôi, dùng một câu nắm bắt điểm chính để nói rõ, bởi vì trật tự và tự quái truyền không giống nhau, vì thế nói thành tạp là chỉ thứ tự rắc rối, phức tạp.
–   Vị: Là chỉ vị trí của mỗi phụ trong 6 hào, đếm từ dưới lên trên, là sơ, nhị, tam, tứ, ngũ, thượng. Trên nguyên tắc, ngũ là địa vị của vua, tức là địa vị của cận thần, tam là địa vị tương đối cao, không quá cao, nhị chỉ địa vị không quá cao, nhưng lại có tính khả năng tương đầu ý khí của vua, sơ là chỉ địa vị khi chưa có con người xuất hiện, thương là chỉ vị trí ẩn thoái.
–   Trung: Vị trí ở giữa của nội quái (hạ quái) và ngoại quái (thượng quái). Nhị là ở chính giữa nội quái, ngũ là ở chính giữa ngoại quái, bởi vì căn cứ ở trung gian, gọi là đắc trung, tốt hơn so với địa vị của nhị, hoặc thượng, đối với các sự vật được áp dụng vào thái độ của trung dung, không thiên vị bên nào, đó chính là ý nghĩa được rút ra từ quẻ đắc trung, được coi là trí tuệ của truyền thống của người Trung Quốc (đạo trung dung).
–   Chính: Số lẻ thuộc dương, số chẵn thuộc âm, do đó trong dương vị của số lẻ, là sơ, tam, ngũ, tương ứng là hào dương, trong âm vị của số chẵn, là nhị, tứ, thương, tương ứng là hào âm. Lúc này được gọi là đắc chính hoặc đương vị. Ngược lại, nếu dương vị các số lẻ là hào âm, âm vị các số chẵn là hào dương, khi là bất chính hoặc là bất đương vị, nếu là quẻ Tế thì toàn hào là chính, mà quẻ Vị tế thì toàn hào là bất chính.
Nội dung của Bát quái sâu sắc mà rộng lớn, diễn dịch của Bát quái biểu thị nguyên lý biến hoá của sự phát triển và sinh tồn của trời đất và vạn vật, khuyến khích trong cuộc đời ngắn ngủi của con người không ngừng phấn đấu vươn lên. Do đó sách Dịch kinh là một sự trình bày hoàn chỉnh của nguyên lý diễn dịch Bát quái. Do trải qua nhiều giai đoạn lịch sử có sự trước tác và san định lại của nhiều học giả, sách Dịch kinh mang trong mình những tư tưởng có giá trị không chỉ với đời sống mà ngay cả với khoa học, tuy nhiên trong nó vẫn còn có một vài quan điểm còn lạc hậu, nhất là sự lồng ghép thuyết Thiên nhân cảm ứng đưa tác phẩm có màu sắc huyền bí, mê tín.

Làng nghề Cát Đằng cung cấp thông tin chi tiết về bài viết
Diễn Dịch Vạn Vật Bát Quái Trong Phong Thủy
Tên bài báo
Diễn Dịch Vạn Vật Bát Quái Trong Phong Thủy
Thông tin mô tả chi tiết
Bát quái, một dấu hiệu thần bí, cổ nhân dùng để diễn dịch vạn vật, xem bói may rủi, dự đoán tương lai. Hãy cùng Làng Nghề Cát Đằng tìm hiểu về bát quái trong phong thủy
Nhà báo
Bản quyền nội dung
Làng Nghề Cát Đằng
Logo
Hotline: 0353.247.247
Chat Facebook
Gọi điện ngay