34 lượt xem

CÁCH SỬ DỤNG CON LẮC (THẦN BÍ ) CỦA NHÀ PHONG THỦY VÀ CẢM XẠ HỌC

Người ta có thể tin hoặc không tin khoa học cảm xạ (radiesthésie). Đây không phải là một môn khoa học chính xác như toán hay vật lý, nhưng nó có nhiều ứng dụng kỳ lạ đến độ khó tin. Một trong những minh chứng rõ nét nhất là con lắc.

Con lắc có khả năng phát hiện những mạch nước ngầm, những kho báu nằm sâu trong lòng đất hay một số mỏ. Con lắc cũng có thể giúp con người giải quyết những phút bực mình do sơ ý hay đãng trí, chẳng hạn khi đánh rơi chiếc chìa khóa ở đầu đó, trong nhà hay ngoài vườn, ông Joseph Mollard “ một trong những chuyên gia hàng đầu thế giới về con lắc – đã có lần tìm ra chiếc máy bay đồ chơi (điều khiển bằng vô tuyến) bay lạc trên một đỉnh đồi cách xa …. 20km. Như thế, những ai cho rằng con lắc chỉ có thể tìm ra vật ở vùng đất thấp buộc phải suy nghĩ lại. Cảnh sát và các thám tử – tất nhiên – không bỏ qua khả năng kỳ diệu này của con lắc trong việc truy tìm thủ phạm hay xác nạn nhân, đặc biệt trong những vụ mất tích.
Càng ngày khả năng kỳ diệu của con lắc càng được phổ biến, nên hàng năm, tại California (Mỹ), người ta lại tổ chức một hội nghị đặc biệt, với sự có mặt của các nhà khoa học cảm xạ khắp năm châu. Tại dây, bên cạnh những buổi hội thảo là những buổi thực nghiệm để so sánh khả năng của nhiều loại con lắc. Điều thú vị là bên cạnh các nhà cảm xạ da trắng, còn có cả các pháp sư da đỏ hay da đen. Không ai phủ nhận những loại con lắc cổ truyền của họ. Mỗi người có một loại con lắc riêng, cách sử dụng riêng, nhưng công dụng thì gần giống nhau. Tuy nhiên, về khả năng phát hiện mạch nước ngầm thì chỉ có một “siêu sao’’ : giáo sư Harold Mac Coy của Mỹ. Đặc biệt, có nhiều bác sĩ của Pháp đang nghiên cứu việc dùng con lắc để chẩn đoán. Thay vì siêu âm
Trong tương lai, có lẽ con lắc còn trình bày nhiều “chiêu” ngoạn mục hơn nữa. Đối với nhà “Cảm xạ học” con lắc là một công cụ thiết yếu không thể thiếu được.
Chúng ta nên tìm hiểu con lắc qua các chủ đề sau đây:

NGUỒN GỐC CON LẮC

Con lắc đã được linh mục Schott sử dụng để tìm vàng lần đầu tiên vào năm 1662. Đến năm 1749, người ta bắt đầu dùng nó để tìm những kho tàng nói chung. Cũng vào thời gian này giáo sĩ Guinebault từ Trung Quốc và giáo sĩ Gerboin từ Ấn Đô đã mang về châu Âu những con lắc dùng để tìm mạch nước. Đến thế kỷ 20, phương pháp cảm xạ (radiesthésie) được phổ biến ở Pháp.
Thuật ngữ radiesthésie (radius : tia; aisthésis : cảm xạ) đã được giáo sĩ Bouly dùng lần đầu tiên vào năm 1890 và đến năm 1922 được chính thức hóa qua tên của “Hội quốc tế về cảm xạ”.
Những chuyên viên cảm xạ nổi tiếng là giáo sĩ Bouly ở Hardelot (1865 – 1958), linh mục Bourdoux, giáo sĩ Mermet (1866 – 1937), hoàng thân Henry de France (1872 – 1937) – người say  mê tìm mạch nước ngầm; Joseph Treyve (1877 – 1946), giáo sĩ Jean Jurion-chuyên chữa bệnh. Họ thành lập “Công đoàn quốc gia chuyên viên cảm xạ” Có những nhà khoa học nghiên cứu cảm xạ như Turenne, De Belizal, Jean de la Foye, Pagot, Yves Rocard. Có những nhà văn lưu ý tới cảm xạ như Luzy, Michel Moine, Christopher Bird.
Theo Dominique và Michèle Frémy, chủ biên bộ từ điển Bách Khoa Quid (1986), chưa có một giải thích khoa học chính xác nào cho hiện tượng này. Chỉ có thể nói đây là một dạng nhạy cảm mà người nào cũng có nhưng ở những mức độ khác nhau. Con lắc là một loại máy khuếch đại cho người làm thí nghiệm có được một câu trả lời về một câu hỏi, tùy theo chiều quay của con lắc.
Con lắc có thể dẫn đường cho thầy thuốc trong công việc chẩn đoán bệnh, cho biết nguyên nhân và bộ phận phải chữa, Môi trường hoạt động khác của con lắc là thủy học, địa chất, nông nghiệp, v.v…
Con lắc quay dưới tác dụng của nhiệt trường, của thân nhiệt đối tượng.

Hình dạng của con lắc tùy thuộc vào óc thẩm mỹ và sở thích của người sử dụng. Do vậy, con lắc có thể có dạng hình cầu, hình chóp nhọn, hình xoắn ốc lò xo. Chất liệu cũng vậy, có người thích dùng gỗ, người chuộng sắt thép, thủy tinh, đá quý, thạch anh, mã não… Sợi dây treo cũng không có chất liệu cố định – có thể bằng chỉ, vải lụa, vàng, bạc, thậm chí sợi tóc, (tuyệt đối không dùng sợi len).
Chỉ có điều rõ rệt là dây càng dài thì con lắc chuyển động càng chậm. Theo các chuyên gia, độ dài lý tưởng của dây treo nên ở khoảng 10 – 20cm.
Cách điều khiển con lắc – Nắm sợi dây thòng nơi đầu ngón tay cái và ngón tay trỏ mặt, để tay thẳng ra, cườm tay và cùi chỏ thong thả không dựa nơi nào.
Để con lắc ngay trên bàn tay trái lật ngửa ra, trong một thời gian rất ngắn, chừng 3 phút, thì lắc cử động.
Để trên một ly nước hay một đồng bạc thì con lắc cũng cử động xây vòng tròn.
Nếu bên tay trái nắm một cắc bạc và bên tay mặt thòng con lắc trên một đồng bạc thì con lắc sẽ lắc qua lắc lại.
Bây giờ ta thử xem qua “ngôn ngữ” của con lắc. Đa phần các nhà Cảm xạ đều đồng ý rằng con lắc có thể trả lời theo kiểu : “có”, “không” và “có lẽ”. Nếu nó xoay theo chiều kim đồng hồ, nghĩa là “có”; theo chiều ngược lại là “không” và đu đưa là “có thể”.

NGUYÊN DO CHUYỂN ĐỘNG CON LẮC 

Đến giờ, người ta vẫn còn tranh luận về nguyên do chuyển động của con lắc. Một số người cho rằng não bộ của người sử dụng sẽ phát ra một lực làm chuyển động con lắc. Giáo- sư Bernard Condẻ (Pháp) lưu ý : “Đừng quên rằng đôi khi vô thức tỏ ra mạnh hơn cả ý thức. Khi sử dụng con lắc, người ta chỉ chú tâm đến việc khi nào nó xoay tròn, chứ không hề nghĩ đến việc điều khiển nó. Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng từ trường của Trái đất đã bị thay đổi khi có vật lạ. Con lắc “cảm” được điều đó nhờ sự giao động từ trường”. Một số nhà vật lý cho rằng mọi vật đều có khả năng phát sóng, nên con lắc chuyển động chẳng  qua là do chịu ảnh hưởng của sóng đến từ những vật lạ ấy. Một số người kết luận rằng chính giác quan thứ sáu của con người đã làm con lắc chuyển động.
Điều này, họ dẫn ra xác suất thành công khi dùng con lắc. Cụ thể, có người không tìm được gì, nhưng người khác – cũng với con lắc ấy – lại thành công. Tại sao ? Bởi vì không phải ai cũng có giác quan thứ sáu như nhau ! Tất nhiên, cách giải thích này khó được chấp nhận. Đáng chú ý hơn cả là giả thuyết sau đây : cơ thể con người có một số điểm có thể tạo ra từ trường khá mạnh, lại thay đổi tùy theo từ trường của đất. Tất cà gồm 7 điểm : Phần cơ gần lông mày – cho phép đôi mắt chuyển động mà con người không cần quay cổ; phần cơ sau gáy – có nhiệm vụ giữ cho cổ thẳng đứng; phần nếp gấp giữa bắp tay và cánh tay; vùng gần thắt lưng; đầu gối; đầu các ngón Chân (tính từ mặt đất lên khoảng 1cm) và cuối cùng là phần giữa của hai ngón chân cái. Chính 7 điểm này sẽ tạo ra từ trường thay đổi, làm con lắc xoay tròn. Một số nhà nghiên cứu cho rằng khi ta nhìn về phía trước mà vẫn cảm thấy có ai đó đứng phía sau, là do phần cơ gáy “phát hiện“. Theo họ, sự chuyển động của con lắc tùy thuộc khá nhiều vào vùng này. Bên cạnh giả thuyết “7 điểm” này, còn có thuyết về các tinh thể. Năm 1983 giáo sư Robin Baker – thuộc Đại học Manchester (Anh) – khi giải phẫu một số tử thi rồi soi kính hiển vi điện tử, đã phát hiện nhiều tinh thể có từ tính. Cũng từ 30 năm nay, giới khoa học Mỹ đã biết rằng trong cơ thể nhiều loài động vật như cá voi, cá heo, một số loài cá lớn và chim di trú có một số tinh thể đặc biệt. Họ cũng đồng ý rằng phần bàn chân là một trong những nơi có từ trường mạnh. Giáo sư Patrick Bellon đã thử ốp hai miếng kim loại nhỏ vào dưới hai gót chân thì thấy con lắc xoay ngay

CÁCH THAO TÁC CON LẮC 

Một phương pháp cầm con lắc để học cảm xạ học giản dị và hữu hiệu theo chiều hướng mũi tên trên mỗi hình.
1,  Con lắc : Càng giản dị càng tốt. Bất cứ vật gì nặng từ 5 đến 40 grammes treo vào một sợi dây không xoắn. Đừng quá nhẹ vì nó sẽ nhảy lồng trên tay những người nóng tính, mà cũng đừng quá nặng vì nó sẽ chậm phản ứng.
2. – Cầm đầu dây dài bao nhiêu ? Bạn hãy tự thí nghiệm một lần để tìm một chiều dài dây cho vừa tay. Khoảng từ 3 đến 7 phần là cùng. Nên nhớ rằng dây càng dài thì con lắc quay càng chậm.
Có thể gắn thêm một vòng sắt hay một cây chặn ngang để cầm cho dễ và để khỏi bóp chặt những đầu ngón tay.
Cầm đầu dây, vòng sắt hay cây chận vào giữa ngón cái và ngón tay chỏ, không bóp chặt quá.
3, – Tập dợt : Trước khi bắt đầu thật sự công việc tìm kiếm của nhà Cảm xạ học, thì phải tập dợt mỗi ngày vài phút trong ba tuần liên tục, để tạo cho được những phản ứng quy mô, rất cần thiết trong công tác Cảm xạ học :
Trên ba cái hình dưới đây bạn cầm con lắc đưa lên mỗi hình trong vài giây đồng hồ, và ước vọng như sau qua lời nói thầm : “Con lắc sẽ quay

Bạn sẽ thấy con lắc “quay thuận” theo chiều kim đồng hồ trên hình A, “quay nghịch” chiều kim đồng hồ trên hình C “và” “lắc” dọc từ trên xuống dưới hình B.
Sau khoảng ba tuần tập dợt hằng ngày bạn sẽ thấy con lắc bạn “quay” hay “lắc” một cách máy móc và rất nhanh chóng, dễ dàng trên mỗi hình của bài tập này. Như vây là bạn đã tạo những phản ứng qui mô của Cảm xạ học.
4 – Quy ước tâm linh : Bạn hãy chọn một lần để dùng mãi mãi, và quyết định rằng “vòng quay theo chiều kim đồng hồ” là một câu trả lời “có” hay là “phải” hay là “dương” “vòng quay nghịch kim đồng hồ “ có nghĩa

câu trả lời “không” hay là “âm” Chuyển động “lắc” có nghĩa là không trả lời dứt khoát.
Sử dụng con lắc có vẻ đơn giản, nhưng không phải không có điều kiện nhất định vì theo các chuyên gia, không nên dùng con lắc khi ta đang bị stress, Chán chường, buồn giận; nói chung là tâm trạng bất ổn. Riêng môi trường đang là vấn đề được bàn luận nhiều nhất, vì xác suất thành công của con lắc tại những nơi kín gió luôn cao hơn những nơi có gió. Sự chuyển động của không khí có ảnh hưởng đến hoạt động của con lắc ?

TẦN SỐ DAO ĐỘNG CỦA CON LẮC

Khi một vật thể dao động được (ở đây là con lắc) bị kích thích thường xuyên bởi một nguyên nhân nào đó, với một tần số bằng tần số riêng của nó thì dù sự kích thích rất nhỏ, vật cũng dao động dần dần mạnh lên, biên độ ngày càng lớn. Hiện tượng đó gọi là sự cộng hưởng. Con lắc đơn, với dây chỉ mềm có khối lượng rất nhỏ so với khối lượng của con lắc, trong quá trình dao động lực ma sát trong cũng như các lực cản khác tạo ra sự khuếch tán năng lượng đều rất nhỏ, nên nó lắc lâu mới tắt. Dù ta cố gắng giữ cho cơ thể bất động, ở các cơ bắp, kể cả hai đầu ngón tay cầm dây chỉ của con lắc, vẫn có những rung động rất nhỏ.
Khi sử dụng con lắc, nếu ta để hẫng toàn bộ cánh tay (không tì vào chỗ nào) thì do cánh tay dài, rung động ở các đầu ngón tay sẽ có biên độ lớn (theo nghĩa tương đối) – lúc này người ta nói cánh cánh tay, tức là “hệ treo con lắc”, có “độ mềm” cao. Nếu ta tựa khuỷu tay lên bàn thì hệ treo con lắc “cứng” hơn, biên độ ở các đầu ngón tay nếu có cũng nhỏ hơn. Nếu lại tì cổ tay hay tựa hai đầu ngón tay lên mép bàn thì hệ treo con lắc quá cứng, bằng cách này, điểm cẩm đầu dây rất khứ rung động được. Vì vậy, khi sử dụng để dễ quan sát hiện tượng (có biên độ lớn), ta nên để hẫng cả cánh tay hoặc cùng lắm chỉ nên tì khuỷu tay.
Khi thực hiện, vì ta chăm chú theo dõi con lắc nên chỉ sau một thời gian ngắn, mắt đã có thể truyền lên não những tín hiệu lặp lại theo một tần số bằng tần số riêng của con lắc. Dần dần, trong não hình thành một tần số ổn định hơn các tần số khác mà não vẫn truyền cho các cơ bắp. Tần số này sẽ tham gia vào hệ thống các tần số dao động điều hòa cơ học của bắp và là tần số ổn định nhất ở hai đầu ngón tay cầm con lắc. Khi đó sẽ phát sinh hiện tượng cộng hưởng và con lắc sẽ dao động mạnh hơn. Hiện tượng cứ thế lặp lại : tần số dao động riêng của con lắc (chiếc nhẫn) do mắt cảm nhận được đưa lên não, não truyền đến đầu ngón tay, đầu ngón tay kích thích con lắc dao động mạnh hơn theo tần số đó, mắt lại cảm nhận được… và hiện tượng cộng hưởng mỗi lúc một rõ (xem hình vẽ).
Để chứng minh lập luận này, mời các bạn hay cùng chúng tôi thực hiện hai thí nghiệm mà vật liệu gồm 4 viên bi ve bọc vải mỏng hoặc giấy màu, treo dưới 4 sợi dây chỉ mềm dài chừng 40cm làm thành 4 con lắc, 7 cái cặp nhựa, 4 vòng thun, vài vật nặng để chặn.

THÍ NGHIỆM 1

Nếu trong khi làm mắt bạn lơ đãng nhìn đi nơi khác, hoặc che để không khi nào nhìn thấy viên bi, thì sau 5, 10 phút con lắc cũng không thể lắc mạnh được. Sau đó, bạn làm lại nhưng chăm chú nhìn theo viên bi. Chỉ sau ít giây, con lắc đã bắt đầu lắc rõ ràng và sau đó tiếp tục lắc mạnh.

THÍ NGHIỆM 2

Chế tạo hai cặp con lắc đơn có cùng tần số riêng. Dùng cặp nhựa cặp vào đầu dây của các con lắc : 2 dây dài khoảng 30cm, 2 dây dài khoảng 15cm. về lý thuyết nếu chiều dài hai dây bằng nhau thì tần số riêng của hai con lắc bằng nhau, nhưng thực tế thì không được như vậy.

Điểu chỉnh cho từng cặp 2 con lắc có cùng tần số riêng thực hiện như sau : dùng cặp nhựa cặp vào đuôi của 2 con lắc cùng loại, đặt chúng lên mép bàn, rồi đè vật nặng cho vững chắc (hình 2). Kéo 2 viên bi ra khỏi vị trí thẳng đứng rồi đồng thời thả ra. Nếu sau 50 lần lắc, 2 con lắc vẫn cùng pha (có cùng vị trí khi ở cùng thời điểm) thì chúng coi như có cùng tần số riêng.
Nếu không cần điều chỉnh : hoặc kéo dây chỉ của con lắc nào lắc chậm, hoặc thả dài dây chỉ của con lắc nào lắc nhanh. Sau khi đã đảm bảo 2 con lắc có cùng tần số riêng, dùng dây thun quấn chặt hàm cặp để cố định chiều dài dây chỉ. Vậy là ta đã có 2 cặp con lắc, mỗi cặp có một tần số riêng. Ta tạm gọi con lắc có dây dài là 1 và 1′, con lắc có dây ngắn là 2 và 2′.
Thí nghiệm : ở mép bàn đặt và đè chặn hai con lắc 1′ và 2′ tương tự như ở hình 1 (phía sau các viên bi nên có một phong nền để dễ ghi nhận sự chuyển động); cầm bằng hai ngón tay con lắc 1 và 2 đã được cặp chặt với nhau như ở hình 3 (toàn cánh tay để hẫng, ,lúc bắt đầu thí nghiệm cố gắng giữa cho hai con lắc này đứng yên).
Khi làm thí nghiệm, bàn tay còn lại cầm một miếng bìa để che cho mắt không nhìn thấy hai con lắc đang cầm ở tay kia mà vẫn thấy con lắc 1′ và 2′.
Rõ ràng, với hai con lắc chiều dài khác nhau và cầm chung bằng hai ngón tay, mắt lại bị che không nhìn thấy, dù có muốn, cũng không thể nào làm cho một trong hai con lắc dao động mạnh, còn con kia đứng yên. Nhưng bằng cách dưới đây, bạn lại có thể làm được điều đó.
Lần thứ nhất, bạn cất con lắc 2′ lên mặt bàn rồi lắc nhẹ con lắc 1′. Sau đó, chăm chú nhìn theo sự chuyển động của viên bi 1′. Sau khoảng 30 lần dao động của con lắc 1′ sẽ thấy con lắc 1 ở tay bạn dao động khá mạnh tức là đã cộng hưởng với con lắc 1′ thông qua sự tiếp nhận bằng mắt tần số của con lắc 1′, trong đó, con lắc 2 vẫn đứng yên.
Lần thứ 2, bạn cất con lắc 1′ để sử dụng con lắc 2′ và lặp lại việc thử như trên thì trên tay bạn con lắc 2 được cộng hưởng, còn con lắc 1 lại đứng yên,
Để yên tâm theo dõi dao động của 2 viên bi 1′ và 2′, có thể nhờ người khác theo dõi phản ứng của những con lắc mà bạn đang cầm trên tay.
Vậy với con lắc, khi chăm chú theo dõi chuyển động của viên bi, mắt đã đưa tần số riêng của con lắc lên não để não truyền cho tay một thành phần dao động kích thích cùng tần số với con lắc và như vậy, tạo ra hiện tượng cộng hưởng.
Bàn tay để sát dưới chiếc nhẫn chỉ là vật chuẩn để ta dễ ghi nhận dao động của nó, đặc biệt là khi dao động còn rất nhỏ. Có thể thay bàn tay bằng tờ giấy màu kẻ ô để chiếc nhẫn nổi bật trên nên giấy và mắt dễ thấy dao động. Còn con lắc dao dộng các dạng khác nhau là do sự phối hợp ngẫu nhiên của các điều kiện đầu của dao động.
Chiều quay của dao động tròn phụ thuộc vào bàn tay ngửa hay úp, nam hay nữ…

ĐO LỰC HÚT ĐỊA CẦU BẰNG CON LẮC  

Nó được các nhà cảm xạ dùng để tiên đoán tương lai hoặc tìm đồ vật bị mất. Nhưng đó cũng là một dụng cụ khoa học có thể đo lực hút địa cầu tại chỗ cực kỳ chính xác.
Khi cầm đầu dây và để cho phần dưới dao động tự do, luôn luôn nó sẽ lắc theo một mặt phẳng cố định. Điều này có thể giải thích được. Hãy cột con lắc vào một giá đỡ có thể di động tròn. Để con lắc dao động và từ từ cho giá đỡ quay. Mặt phẳng dao động của nó vẫn không thay đổi như chẳng hề có điều gì xảy ra. Ngược lại nếu tạo cho con lắc vận tốc đầu thẳng gốc với mặt phẳng dao động, nó sẽ tạo ra một hình bầu dục.
Năm 1950, nhà vật lý Foucault đã dùng nó để chứng minh trái đất quay tròn trên trục của chính mình, ông chế tạo một con lắc nặng và dày dài đến 57 mét treo ở máy vòm của điện Panthéon. Mặt phẳng dao động cố định của nó từ từ dì chuyển ngược chiều với chiều quay của địa cầu. Thí nghiệm này được lặp lại nhiều  lần ở Viện bảo tàng bảo tồn kỹ thuật quốc gia cho khách tham quan.
Thực ra việc giải thích mặt phẳng cố định này không được rõ ràng, ít nhất là ở Paris. Ngược lại, sẽ hoàn toàn chính xác nếu con lắc được treo ở Bắc cực hay Nam cực. Mặt phẳng sẽ hoàn toàn cố định và trái đất quay bên dưới nó trong 24 giờ.
Nếu con lắc được cầm ở các nơi khác trên trái đất, mặt phẳng dao động sẽ quay theo. Điều này làm cho sự việc trở nên rắc rối. Thay vì lắc theo một mặt phẳng, nó sẽ tạo ra
một hình bầu dục rất đẹp, tùy thuộc vào chu kỳ của con lắc so với 24 giờ quay của trái đất. Thế mà người ta lại có cảm tưởng như nó dao động trên một mặt phẳng cố định và điểm khác biệt với ở Bắc cực là mặt phẳng này không quay trong 24 giờ (xem hình). Đặc biệt ở xích đạo, con lắc dao động rất chậm và mặt phẳng không thay đổi. Tại Parts phải mất 32 giờ cho mặt phẳng quay trọn một vòng. Tùy theo vĩ đô của địa phương và vận tốc quay này thay đổi. Nói rõ hơn, tỉ lệ nghịch với sin của góc vĩ độ : tối đa ở hai cực và tối thiểu ở xích đạo,

NGÔN NGỮ BIỂU TƯỢNG CỦA CON LẮC

Nhà Cảm xạ học cầm đầu sợi chỉ bằng ngón tay trỏ và ngón tay cái nâng nhẹ con lắc lên, ba ngón tay còn lại xòe ra, giữ cho tay không động đậy và theo dõi con lắc sẽ thấy:
–   Con lắc có thể đu đưa sang hai phía, trên một mặt phẳng.
–   Con lắc có thể xoay tròn theo chiều kim đồng hồ hoặc ngược lại.
Những chuyển động của con lắc đều theo một quy luật nhất định tùy theo tia sóng điện từ thâu được, nhờ đó mà nhà Cảm xạ học có thể giải thích được các chi tiết đang cần biết.
Nếu chúng ta luyện tập trở thành một nhà Cảm xạ học sự làm thí nghiệm với con lắc Chúng ta sẽ thấy như sau :
xa độ vài phần, con lắc từ từ chuyển động, xoay tròn quanh ngọn đèn.
2/. Để con lắc trên lòng bàn tay trái mình, cách xa vài phân con lắc sẽ đu đưa như con lắc đồng hồ.
3/. Vẽ một hình tròn, một nửa để trắng, một nửa bôi đỏ, Để con lắc trên hình cách xa vài phân : trên nửa hình trắng con lắc xoay tròn, trên nửa hình đỏ con lắc đu đưa qua lại.
4/. Đặt con lắc trên một la bàn, trên đầu kim chỉ về phía Nam con lắc đu đưa qua lại, trên đầu kia con lắc xoay tròn ngược chiều kim đồng hồ.
5/. Đối với đàn ông :
+ Trên bàn tay mặt úp sấp và trên bàn tay trái úp ngửa con lắc xoay tròn.
+ Trên bàn tay trái úp sấp và trên bàn tay mặt ngửa con lắc đu đưa qua lại.
6/. Đối với đàn bà thì ngược lại:
+ Trên bàn tay mặt úp sấp và trên bàn tay trái ngửa con lắc đu đưa qua lại.
+ Trên bàn tay trái úp sấp và trên bàn tay mặt ngửa con lắc xoay tròn.
Những biểu tượng ngôn ngữ của con lắc còn rất nhiều điều thú vị, tùy theo yêu cầu đối tượng, để nghi tham khảo qua các đề tài trong bộ sách này đã được sắp xếp rất phân minh như một bộ tự điển.

Làng nghề Cát Đằng cung cấp thông tin chi tiết về bài viết
Tên bài báo
CON LẮC(THẦN BÍ ) CỦA NHÀ PHONG THỦY VÀ CẢM XẠ HỌC
Thông tin mô tả chi tiết
Người ta có thể tin hoặc không tin khoa học cảm xạ (radiesthésie). Đây không phải là một môn khoa học chính xác như toán hay vật lý, nhưng nó có nhiều ứng dụng kỳ lạ đến độ khó tin. Một trong những minh chứng rõ nét nhất là con lắc.
Nhà báo
Bản quyền nội dung
Làng Nghề Cát Đằng
Logo
Hotline: 0353.247.247
Chat Facebook
Gọi điện ngay