29 lượt xem

Cách Sử Dụng Kim Chỉ Nam Giúp Bạn Xem Hướng Nhà

Ngay từ thời Chiến quốc, các triết gia cổ đã phát minh ra kim nam chỉ nam, đương thời gọi là từ nam, Từ nam gồm một cái môi bằng từ thiết (sắt từ) và một cái thi. Môi giống cái môi múc canh, đáy tròn, có thể tự do xoay tròn trên mặt bàn trơn.

Khi môi dùng, Cấn môi chỉ hướng nam. Là cái bàn hình vuông, làm bằng đồng hoặc bằng gỗ, xung quanh khắc Thiên can, Địa Chi, Bát quái, Bát can là Giáp Ất Bính Đinh Canh Tân Nhâm Quí: Thập nhị chi là Tý Sửu Dần Mẹo Thìn Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi, thêm tứ dung Kiền Khôn Tốn Cấn, cộng là hai mươi bốn hướng là địa hướng của từ nam. Ở giữa là thiên bàn hình tròn, mặt bàn trơn bóng, giống như thiên trì của la bàn sau này, môi có thể chuyển động trên đó. Mô hình này vào những năm 40 của thế kỷ này, học giả vương Chấn Đạt của nước ta đã phục chế được.
Lần giở thư tịch cổ, thế kỷ. thứ ba trước công nguyên đã ghi chép vào từ nam. “Hàn Phi Tử-Hữu Độ” viết: “Đặt từ nam để đoán sáng tối’’ “Quỷ Cốc tử mưu”, viết: “Người Trịnh di lấy ngọc, đem theo xe từ nam, không nhầm lẫn”.Đến đời Đông Hán, Vương Sung trong “Luận hành – Lý ứng Thiên”, viết :”Cái môi của từ nam, đặt xuống đất, cái môi chỉ hướng nam” Trương Hoành viết “Đông kinh phú”, đổi tên từ nam thành chỉ nam.

Người xưa đã biết lợi dụng nguyên lý kim chỉ nam để
làm ra xe chỉ nam. “Thái Bình ngự lâm” quyển 15, dẫn Chí Lâm”, viết :”Hoàng đế đánh nhau với Xuy Vưu ở cánh đồng thỉ Lộc. Xuy Vưu hóa phép xương mù mờ mịt liền ba ngày, ai cũng không tìm ra lối đỉ. Hoàng đế sai Phong hậu dấu pháp, chế ra xe chỉ nam để nhận rõ bốn phương, sau đó bắt được Suy Vưu”. Lại đồn rằng cách đây ba ngàn năm, thời Chu Thành vương, Việt Thường Thị ở phương nam đến kinh đô triều bái. Chu Thành vương ban cho xe chỉ nam làm công cụ phân biệt phương hướng.
Sử chép Trương Hoành chế ra xe chỉ nam và xe tự báo độ dài từng dặm của đường đã đi,tiếc rằng nay đã thất truyền. Trương Hoành là nha khoa học trắc việt, thông minh tài trí, ông từng phát minh ra máy đo địa chấn và hổn thiên nghi, phức tạp hơn nhiều xe chỉ nam, những loại xe này đều liên quan đến phương vị. Có thể suy ra, chế tạo xe chỉ nam không phải là chuyện khó đối với Trương Hoành.
Đời Tào Ngụy (Tam cuốc), Tán kỵ, Thường Thị Cao Đường Long và Phiêu Kỵ Tướng Quân Tần Lương cho rằng thời cổ không có xe chỉ nam, sách nói không đủ tin. Cấp sự Trung Mã Quân tranh luận với hai người đã chế thử được một xe chỉ nam, tiếc rằng lại thất truyền.
Đời Tống, Yên Túc và Ngô Đức Nhân lại chế thử được xe chỉ nam,”Tống sử – Dữ phục chi” ghi lại phương pháp chế tác và kết cấu nội dung của xe chỉ nam ; do đó kỹ thuật chế tác này mới được lưu lại. Nhưng xe chỉ nam vẫn không thông dụng, rất hạn chế.
Đời Tống, dùng nhiều nhất vẫn là xe chỉ nam và có ghi chép nhiều. Chu Húc năm 1119 được trông thấy Châu sư trên một hải thuyền Trung Quốc. Châu sư này ‘biết địa lý, đếm nhìn sao, ngày trông mặt trời, nếu trời đất u ám thì nhìn kim chỉ nam , ông chép những điều này trong “Bình Châu khá đàm”. Đây là ghi chép sớm nhất thế giới về kim chỉ nam. Ngô Tự Mục, Nam Tống, trong “Mộng lương lục” cũng ghi chép về việc sử dụng kim chỉ nam để đi biển , khi gió mưa mù mịt, chỉ nhờ vào trâm bàn (la bàn có kim chỉ nam) mà đi, phải kiên trì theo dõi không dám để sai sót mảy may,vì can hệ đến tính mạng mọi người trên thuyền.
Các học giả đời Tống lần lượt giới thiệu mấy loại kim chỉ nam thời bấy giờ, Tác phẩm quân sự “Vũ kinh tổng yếu” do Tăng Công Lượng chủ biên, đã giới thiệu chỉ nam ngư (cá chỉ nam). Chỉ nam ngư là dùng thép lá làm thành con cá, sau đó dùng phương pháp từ hóa cho nhiễm từ, khi thả nổi trên mặt nước, nó tự động chỉ hướng nam. Thẩm quát trong “Mộng khê bút đảm’ giới thiệu kim chỉ nam, viết : ‘Phương gia (chuyên gia) mài từ thạch thành kim là có thể chỉ hướng nam . Nam Tống Trần Nguyên Thanh trong “Sự lâm quảng kỉ” giới thiệu cá chỉ nam và rùa chỉ nam bằng gỗ trong bụng chứa từ thạch, dùng để chỉ nam.

Cách thức bố trí kim chỉ nam đời Tống đại để có 4 hình thức 

Một là, đặt kim chỉ nam trên móng tay ;

Hai là đặt kim chỉ nam lên sườn bát;

Ba là đặt kim nằm ngang trên sợi bấc đèn đặt nổi trên mặt nước ;

Bốn là dùng sợi tơ tằm buộc (dán) giữa thân kim rồi treo ở chỗ kim gió.

Sau này, kết cấu kim chỉ nam có nhiều cái mới qui nạp lại, có hai loại: la bàn nước và la bàn khô. La bàn khô có giá đỡ kim cố định, đầu nhọn của đinh trên giá đỡ ở điểm trọng tâm giữ kìm, kim sẽ chuyển động tự do, tính ổn định rất cao. La bàn nước nổi trên mặt nước, hay lắc lư, dần bị đào thải.
Kim chỉ nam từng có tác dụng to lớn trong nghề hàng hải. ‘Hải đạo kinh’ và ‘Nguyên đại hải vận ký” triều Nguyên đều ghi chép đương hàng hải do kim chỉ nam chỉ dẫn. Trịnh Hòa đời Minh  bảy lần đi Tây dương  đều dựa vào kim chỉ nam mới đi biển được thuận lợi.
So với ta, phương Tây lạc hậu hơn. Thế kỷ 13, Anh, Hà Lan, Ý mới lần lượt dùng la bàn để đi biển. Năm l492, Colombo khi vượt ngang Đại Tây Dương mới phát hiện góc từ thiên. Người phương Tây dùng la bàn đã mở ra con đường thông với thế giới, tạo điều kiện thuận lợi cho tích lũy nguyên thủy của chủ nghĩa tư bản.
Kim chỉ nam là một trong bốn phát minh lớn của Trung quốc đối với nhân loại.

Làng nghề Cát Đằng cung cấp thông tin chi tiết về bài viết
Tên bài báo
Cách Sử Dụng Kim Chỉ Nam Giúp Bạn Xem Hướng Nhà
Thông tin mô tả chi tiết
Ngay từ thời Chiến quốc, các triết gia cổ đã phát minh ra kim nam chỉ nam, đương thời gọi là từ nam, Từ nam gồm một cái môi bằng từ thiết (sắt từ) và một cái thi. Môi giống cái môi múc canh, đáy tròn, có thể tự do xoay tròn trên mặt bàn trơn.
Nhà báo
Bản quyền nội dung
Làng Nghề Cát Đằng
Logo
Hotline: 0353.247.247
Chat Facebook
Gọi điện ngay