30 lượt xem

Đình Tây Đệ Nhị xưa và nay

đình tây đệ nhị

Ngôi đình Tây Đệ Nhị còn gọi là Tây Điện được xây dựng ở đầu thôn sát đường liên xã trên một khu đất thoáng rộng có diện tích 2386m2, trước cửa đình có sông Vĩnh chảy qua. Phía tây bắc đình là chùa Quỳnh Đô, bên dòng sông Vĩnh còn có một cây đa to, cổ kính ước ngót trăm năm tuổi. Ngôi đình gồm có 2 toà, kiến trúc theo kiểu chữ đinh.

Đình Tây Đệ Nhị xưa và nay

Theo các nguồn tư liệu còn lưu giữ tại di tích, cùng truyền thuyết ở địa phương thì làng Đệ Nhị thuộc tổng Đệ Nhất vào thời Hùng Vương thuộc hương Thái An. Tương truyền đây là nơi tướng Dũng Dược sinh ra, lớn lên và hiển đạt. Ông đã có công phò giúp Hùng Duệ Vương đánh giặc Thục đồng thời quan tâm giúp đỡ quê hương nên được triều đình và nhân dân địa phương thờ tại đình Đông làng Đệ Nhị cùng với hai ông bà Ngự sử đại phu Lê Phụ Trần và Công chúa Chiêu Thánh. Sau khi ngôi đình Đông bị dỡ để phục vụ các công trình phúc lợi, nhân dân địa phương rước bát nhang và bài vị về cùng thờ với tướng Lư Cao Mang tại đình Tây Đệ Nhị. Thời Trần làng cổ Đệ Nhị cùng với làng Đệ Nhất, Đệ Tam, Đệ Tứ nằm trong hành cung Thiên Trường.

đình tây đệ nhị
không gian ngoài ngôi đình

Ngôi đình Tây Đệ Nhị còn gọi là Tây Điện được xây dựng ở đầu thôn sát đường liên xã trên một khu đất thoáng rộng có diện tích 2386m2, trước cửa đình có sông Vĩnh chảy qua. Phía tây bắc đình là chùa Quỳnh Đô, bên dòng sông Vĩnh còn có một cây đa to, cổ kính ước ngót trăm năm tuổi. Ngôi đình gồm có 2 toà, kiến trúc theo kiểu chữ đinh. Tiền đường 3 gian 2 chái, bốn mái cong, bờ dải có hoa văn mây tản, đại bờ đắp lưỡng long chầu nguyệt. Bộ khung nhà tiền đường được tạo bởi bốn vì kèo, được thiết kế theo kiểu vì kèo chồng rường kẻ chuyền. Hai vì kèo của hai đầu hồi thiết kế theo kiểu kẻ moi, trụ lửng. Bốn cột của vì này có kích thước (cao 2,55m; đường kính 0,22m) chống thẳng xuống chân tảng của mặt nền. Một vì lửng, các cột trốn, được đặt trên các trụ đấu. Các cấu kiện của bốn vì kèo của ba gian giữa được làm bằng gỗ lim chạm khắc hoa văn cánh sen, lá lật mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn. Nâng đỡ bốn vì kèo này là hệ thống 16 cột, gồm tám cột cái và tám cột quân được làm bằng gỗ lim, đáy cột hơi thót phía chân, phần thân cột phình rộng ra và càng lên cao càng thu nhỏ dần. Hai cột cái liên kết với nhau bởi câu đầu có kích thước dài 2,15m. Tám cột cái bằng nhau có kích thước: cao 3,35m, đường kính 0,25m cột cái liên kết với cột quân bằng hệ thống kẻ, nghé kẻ. Hệ thống kẻ, nghé kẻ đều được chạm hoạ tiết tứ linh, tứ quý mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn. Toàn bộ hệ thống cột, câu đầu, xà thượng, xà hạ, kẻ, nghé kẻ, các vì kèo nóc, kèo nách đều được lắp ghép bằng các mộng tạo nên bộ khung vững chắc có tính thẩm mỹ cao.

Tại đền Đình Tây Đệ Nhị thờ tướng Lư Cao Mang. Ông sinh ngày 15-2 năm Kỷ Dậu (1248), là con ông Lư Thuỷ Châu và bà Hàn Thị Xuân, quê ở làng Cự Xá, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Ngay từ năm lên 6 tuổi, Lư Cao Mang đã được cha mẹ tìm thầy giỏi cho theo học, vì thế ông đã sớm trở thành một người văn võ toàn tài. Năm 18 tuổi, ông được quan phủ Trần Thì Kiến tiến cử vào chức Chu Tào tuỳ vệ sứ. Sau đó ông được Hưng Đạo vương chọn làm nha tướng, tuỳ tướng cận thần, hết sức tin dùng, đi đến đâu đều có ông đi theo như việc tiếp đón sứ Nguyên, điều hành quân đội ở các lộ Hải Đông, chống giặc ở Gia Lâm, Trường Yên, bảo vệ Thượng hoàng nhà Trần khi rút lui cũng như lúc phản công, việc nào ông cũng lập nhiều công lớn. Dưới trướng của Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, ông đã cùng với Yết Kiêu, Dã Tượng, Nguyễn Địa Lô chuẩn bị tốt cho cuộc kháng chiến chống đế quốc Nguyên Mông giành thắng lợi. Năm 1269, Lư Cao Mang chỉ huy bảo vệ đoàn sứ bộ Lê Đà, Lê Củng Viên sang nước Nguyên bàn việc biên giới. Lư Cao Mang còn giúp Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật lên đạo Đà Giang để dẹp nội loạn; giúp Trần Thì Kiến giữ gìn bình an ở phủ Thiên Trường. Năm Tân Tỵ (1281) Lư Cao Mang lấy vợ người xã Như Thức (nay là xã Mỹ Thắng, huyện Mỹ Lộc) tên là Lê Thị Thuý.

Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ ba, Lư Cao Mang trực tiếp điều quân tại Hưng Yên, phản công địch giành nhiều thắng lợi. Ông cùng với Nguyễn Địa Lô, Nguyễn Chế Nghĩa, dưới sự chỉ huy của Phạm Ngũ Lão đánh giặc ở Bạch Đằng, trấn trị các vùng xung yếu như Lạng Sơn, Chi Lăng, giúp vương triều Trần tổ chức kháng chiến giành thắng lợi, giữ bình yên cho đất nước. Thời kỳ làm quan tại phủ Thiên Trường, Lư Cao Mang hết lòng vì nhiệm vụ. Đối với nhân dân làng Đệ Nhị, ông khuyến khích bà con trồng lúa, trồng dâu nuôi tằm dệt vải, khơi mương làm cầu cống đắp đường… để tiện việc giao thông và tưới tiêu đồng ruộng. Ông còn quan tâm, tạo điều kiện cho nhân dân dựng đền chùa, khuyên nhủ mọi người điều nhân nghĩa, giúp đỡ người nghèo xây dựng thuần phong mỹ tục cho quê hương.

Tướng Lư Cao Mang qua đời ngày 12 tháng chạp, niên hiệu Khai Thái thứ 5 (1328), hưởng thọ 80 tuổi. Ông là thần chủ chính được thờ tại đình làng Đệ Nhị. Trải qua các triều đại phong kiến, Lư Cao Mang đều được ban tặng sắc phong là Trung đẳng thần, vào niên hiệu Minh Mệnh 21 (1840), Thiệu Trị 6 (1846) và Thượng đẳng thần vào niên hiệu Duy Tân thứ 3 (1909).

Ngoài ra, Đình Tây Đệ Nhị còn phối thờ Lý Chiêu Hoàng và Lê Phụ Trần. Lê Phụ Trần là người Châu Ái (nay thuộc tỉnh Thanh Hoá) và thuộc dòng dõi của Lê Hoàn. Trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất chống quân Mông Cổ (1258), Lê Tần là một tướng giỏi đã lập nhiều công lớn, thực sự là đấng lương thần giàu lòng trung nghĩa, tài cao mưu lớn; trong ngày mừng chiến thắng ngày mùng 5 tết Mậu Ngọ (1258) tại kinh thành Thăng Long ông được vua Trần Thái Tông ban thưởng đổi tên là Lê Phụ Trần Nghĩa là người họ Lê có công phụng sự họ Trần) và được phong chức Ngự sử đại phu và cho kết duyên cùng với công chúa Lý Chiêu Thánh. Nhà Trần coi gia đình ông không khác gì thành viên của hoàng tộc. Ông được triều đình tin cậy giao phó nhiều trọng trách. Lê Phụ Tần đã từng là sứ giả của Đại Việt sang Mông Cổ vào các năm: 1257, 1258. Với tài biện bạch của mình ông đã khiến triều đình Mông Cổ phải nể phục. Ông còn là thày dạy của vua Trần Nhân Tông, khi nhà vua đang ở ngôi Hoàng Thái tử. Tên tuổi của Lê Phụ Trần gắn liền với trận Bình Lệ Nguyên và với thắng lợi trọn vẹn của cuộc kháng chiến chống xâm lược Mông Cổ năm 1258. Tương truyền sau khi được vua Trần phong thưởng gả công chúa Lý Chiêu Hoàng, gia đình ông về sống cùng vợ con tại xã Đệ Nhị, huyện Mỹ Lộc sau lại dời về xã Đông Ba huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng (nay thuộc thôn Đồi xã Yên Đồng, huyện Ý Yên). Lý Chiêu Thánh làm vợ Lê Phụ Trần được 20 năm sinh con trai là Thượng vị hầu Lê Tông và con gái là Ứng Thị công chúa (Ngọc Khuê). Bà qua đời năm Mậu Dần niên hiệu Bảo Phù 6 (1278) đời Trần Thánh Tông thọ 61 tuổi. Tương truyền sau khi kết duyên cùng thủ lĩnh Lê Phụ Trần, hai ông bà đã về sinh sống tại cung Đệ Nhị xã Mỹ Trung. Bà thường cấp tiền bạc, ruộng đất cho nhân dân xã Đệ Nhị (nay là thôn Đệ Nhị xã Mỹ Trung), sau khi bà mất dân làng nhớ công đức bà lập miếu thờ tôn làm thành hoàng làng, thể hiện rõ lòng tri ân và đạo lý “uống nước nhớ nguồn”.

Làng nghề Cát Đằng cung cấp thông tin chi tiết về bài viết
Đình Tây Đệ Nhị xưa và nay
Tên bài báo
Đình Tây Đệ Nhị xưa và nay
Thông tin mô tả chi tiết
Ngôi đình Tây Đệ Nhị còn gọi là Tây Điện được xây dựng ở đầu thôn sát đường liên xã trên một khu đất thoáng rộng có diện tích 2386m2, trước cửa đình có sông Vĩnh chảy qua. Phía tây bắc đình là chùa Quỳnh Đô, bên dòng sông Vĩnh còn có một cây đa to, cổ kính ước ngót trăm năm tuổi
Nhà báo
Bản quyền nội dung
Làng nghề Cát Đằng
Logo
Hotline: 0353.247.247
Chat Facebook
Gọi điện ngay