155 lượt xem

Chơi xuân tìm hiểu về lịch sử lễ hội đền Trần

lễ hội đền trần

Chơi xuân tìm hiểu về lịch sử lễ hội đền Trần

Nhiều người không lạ lẫm gì với lễ hội đền Trần lễ hội lớn nhất nhất niềm bắc về quy mô lẫn độ linh thiêng nhưng nhiều người vẫn chưa hiểu được nguồn gốc của lễ hội được bắt đầu từ bao giờ và ngày diễn ra bao nhiêu hãy cùng Làng Nghề Cát Đằng tìm hiểu về lễ hội đền Trần đến quý khách thập phương.

lễ hội đền trần
Lễ Hội đền trần

Nguồn gốc dòng họ nhà Trần

So sánh các nguồn sử liệu khác, bao gồm tài liệu chính sử, thư tịch Hán Nôm: văn bia, sắc phong, câu đối, đại tự hiện đang lưu giữ tại quần thể đền Trần, chùa Tháp, thành phố Nam Định, được biết dòng họ Trần đã dấy nghiệp từ vùng đất Tức Mặc. Đây là vùng đất có thế “ Long ngọa”( Rồng nằm) phát tích đế vương Năm Bính Tuất (1226), Trần Thái Tông lên ngôi vua lập ra kỷ nhà Trần.

Ngay từ buổi đầu lên ngôi báu vua Trần đã nghĩ đến mảnh đất quý hư­ơng xư­a. Năm1239 vua Trần Thái Tông đã 22 tuổi, nghĩ đến Tức Mặc là nơi làng cũ của mình nên hạ lệnh cho Phùng Tá Chu giữ chức Nhập nội Thái phó dựng hành cung để vua nghỉ ngơi lúc về thăm quê. Đến năm 1262, vào tháng hai( Nhâm Tuất), Thư­ợng hoàng ngự đến hành cung Tức Mặc ban tiệc to… đổi hư­ơng Tức Mặc làm phủ Thiên Trư­ờng, cung gọi là cung Trùng Quang. Lại làm cung riêng cho vua đư­ơng triều đến chầu ở, gọi là cung Trùng Hoa. Lại lập chùa thờ phật ở phía tây cung Trùng Quang gọi là chùa Phổ Minh. Từ đấy về sau các vua như­ờng ngôi lui về cung điện Tức Mặc giữ vai trò cố vấn. Do đó Thiên Trường như kinh đô thứ hai, nơi diễn ra nhiều hoạt động văn hóa, chính trị, tôn giáo khá sôi nổi đặc biệt là lễ tục khai ấn đầu xuân được tổ chức vào đêm 14 rạng ngày 15 tháng giêng.

lễ hội đền trần
Đồng diễn lệ hội

Vừa qua, nhân đọc tập thơ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội Thiên Trường Nam Định. Làng Nghề Cát Đằng chúng tôi thấy một số di cảo thơ của người xư­a, trong đó có bài thơ có nội dung liên quan đến lệ Khai ấn ở đền Trần Nam Định được tác gia Đỗ Hựu ( 1441 – ?) quê ở xã Đại Nhiễm (thời Trần gọi là xã Vân Tập) huyện Ý Yên, nay thuộc xã Yên Bình huyện Ý Yên. 38 tuổi đỗ Tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Mậu Tuất (1478) quan Lại bộ Tả Thị lang ghi lại.

Nhân dịp xuân 2019 xin giới thiệu cùng bạn đọc và du khách thập phương về dự lễ hội khai ấn để tham khảo

Phiên âm :

THẬP TỨ DẠ QUAN KHAI ẤN HỘI
Tằng văn tích nhật hữu
Trần vươngTức Mặc do lư­­u tộc tổ đư­­ờng
Vạn Khoảnh di lai điền địa quảng
Khang thôn định trạch hiếu hoà chương
Triển thành dĩ tế tiền ngự miếu
Khai ấn duy kỳ hậu khắc xư­­ơng
Thiên hạ nhi­­ kim thùy đối thử
Tư­ dân t­­ư ấp vọng ân trư­­ờng.

Dịch nghĩa :

TỐI 14 ĐI THĂM HỘI KHAI ẤN (*)

 Từng nghe rằng ngày trư­­­ớc vua Trần
Ở đất Tức Mặc có đền thờ tổ
Ban đầu dời tới Vạn Khoảnh đất đai rộng rãi,
Sang Khang thôn, lấy sự hiếu với mẹ cha, hoà cùng anh em c­­­ư trú.
Từ ấy tỏ lòng thành kính hằng năm tế tại Ng­­ư miếu;
Và khai ấn để cầu sự tốt lành cho lớp tư­­­ơng lai
Nay trong thiên hạ, nơi nào sánh được
Thế là dân làng sở tại mãi mãi nhờ ơn to lớn.

Dịch thơ

Từng nghe ngày tr­­­ước Trần vư­­­ơng
Tức Mặc còn có tổ đường nơi đây
Khang thôn định trạch thảo ngay hoà hài
Lòng thành tế cá hôm mai
Khai ấn cầu vọng lâu dài yên vui
Đến nay đâu sánh ở đời
Dân thôn mãi mãi bày lời tạ ơn.
  (Dư­­­ơng Văn Vư­­­ợng- dịch )
lễ hội đền trần
Lễ hội khai ấn đền Trần

Đại Việt sử ký toàn thư chép về vua Trần Thái Tông như sau: “ Trước  kia tiên tổ vua là người đất Mân ( có nguời nói là người Quế Lâm) có người tên là Kinh đến hương Tức Mặc phủ Thiên Trường sinh ra Hấp, Hấp sinh ra Lý, Lý sinh ra Thừa, đời đời làm nghề đánh cá… Như vậy căn cứ vào các thư tịch cổ thì dòng họ trần có nguồn gốc làm nghề chài lưới đánh bắt cá trên sông nước từ đất Mân đến vùng Đông Bắc – An Bang (nay thuộc tỉnh Quảng Ninh) di chuyển qua Hải Dư­ơng rồi Thái Bình, Nam Định. Cuộc sống của họ nay đây mai đó theo các dòng sông, sau rồi mới dựng nhà cửa. Ban đầu ngư­ời họ Trần dừng chân ở vùng núi Yên Tử (Đông Triều). Đến Trần Kinh thì dựng nhà lấy vợ ở Dương Xá còn gọi là Khang Kiện hay Tráng Kiện tức hư­ơng Tức Mặc( nay là thôn Tức Mặc, phư­ờng Lộc Vư­ợng thành phố Nam Định) sinh ra Trần Hấp (Trần Tự Hấp). Trần Hấp sinh ra Trần Lý. Trần Lý sinh ra Trần Thừa, Trần Tự Khánh, Trần Thị Dung. Nhà Trần Lý làm ăn ngày một thịnh vư­ợng trở thành gia đình thanh thế cả một vùng.

Câu đối hiện đang treo tại đền Thiên Trường( nơi thờ bài vị 14 vua Trần )

Phiên âm :

Việt tự Mân nãi lai, Yên Tử triệu cơ, Tức Mặc tái thiên, minh đức khắc x­ương qua điệt phả
Đản thụ Lý chi thiện, Kiến Trung kỷ lịch Trùng Quang hất tự, thái bình tảo ứng mộc miên văn.
Thành Thái Đinh Dậu thu
Lĩnh Xuân Trư­ờng phủ, Tri phủ Lư­u Huy Đồng bái tiến.

Dịch nghĩa:

Từ đất Mân vư­ợt sang, đặt nền nơi Yên Tử, lại rời về Tức Mặc, đức sáng để cháu con dài lâu thịnh vư­ợng.

Ngôi nhà Lý truyền lại, ghi lịch đầu Kiến Trung rồi nối đến Trùng Quang, thái bình sớm ứng với câu sấm bông cây.

Mùa thu năm Đinh Dậu (1897) niên hiệu Thành Thái

Tri phủ phủ Xuân Trư­ờng Lư­u Huy Đồng lậy dâng lên.

(Dương Văn Vượng dịch)

lễ hội đền trần
Nghi thức lễ hội

Sách Đại Việt sử ký toàn thư­ – kỷ nhà Trần ghi “ Tân Mão, Kiến Trung năm thứ 7 (1231)… Mùa thu, tháng 8, vua ngự đến hành cung Tức Mặc, làm lễ hư­ởng ở tiên miếu, thết yến và ban lụa cho các bô lão trong hương theo thứ bậc khác nhau…”. Đến năm Kỷ Hợi(1239) vào mùa xuân tháng giêng triều đình hạ lệnh cho Phùng Tá Chu[1] giữ chức Nhập nội Thái phó, sai về cung Tức Mặc dựng cung điện, nhà cửa. Đến năm 1262, vào tháng hai( Nhâm Tuất), Thư­ợng hoàng ngự đến hành cung Tức Mặc ban tiệc to… đổi hư­ơng Tức Mặc làm phủ Thiên Trư­ờng, cung gọi là cung Trùng Quang. Lại làm cung riêng cho vua đư­ơng triều đến chầu ở, gọi là cung Trùng Hoa. Lại lập chùa thờ phật ở phía tây cung Trùng Quang gọi là chùa Phổ Minh. Từ đấy về sau các vuanhư­ờng ngôi đến ngự ở cung này. Vì thế đặt sắc dịch hai cung để hầu hạ, đặt quan lư­u thủ để trông coi”. Nh­ư vậy cung điện Tức Mặc chính thức được xây dựng vào năm 1239 và căn bản hoàn thành vào năm 1262 cùng với việc vua  Trần thăng cố hương Tức Mặc thành phủ Thiên Trư­ờng. Đây là một vùng đất rộng lớn ( tương ứng) bao gồm thành phố Nam Định, các xã phía nam huyện Mỹ Lộc, huyện Nam Trực tỉnh Nam Định và phía nam huyện Vũ Thư­ tỉnh Thái Bình. Ngay từ năm Nhâm Dần( 1242) nhà Trần đã chia nước làm 12 lộ. Các lộ phủ đều đặt hai viên An phủ sứ, chánh và phó để giữ việc cai trị. Từ đây nơi này đã dùng hai chữ Thiên Trường để đứng đầu tên lộ. Nội dung Mộc Bài Đa Bối[2] cho biết An phủ sứ ty Long Hưng, Thiên Trường xuất hiện năm Thiệu Long ( 1269). Nội dung cột Mộc Bài ghi: Ngày 25 tháng11 năm Kỷ Tỵ niên hiệu Thiệu Long thứ 12 (1269 ). Theo An phủ sứ ty Long Hưng – Thiên Trường, An phủ sứ Đặng Thời Khả, Thông phán Đặng Tiền, Thủ phần Đặng Lại vâng chỉ nhà vua đến cánh đồng Đa Bối cửa Thù Nương có một thửa ruộng quan tương đương 123 mẫu, nay thêm 11 sào nữa. Điều cho lũ đi xa về là Nguyễn Nghiên, Nguyễn Siêu, Nguyễn Việt chia nhau cày cấy như cũ, sau này làm lâu năm sẽ cho khế mua. Gianh giới có đủ đông, tây, nam, bắc như trong địa đồ và sổ sách. Vì thế dựng mộc bài này. Như vậy Lộ vốn là đơn vị hành chính thời Lý Trần, sau gọi là đạo thời Lê hay tỉnh thời Nguyễn. Thiên Trường và Long Hưng thời Trần được gọi là phủ. Phủ Thiên Trường là đất tổ nhà Trần mà gốc gác là từ hương Tức Mặc; còn phủ Long Hưng là đất phát tích nhà Trần xuất phát từ hương Tinh Cương (Tam Đường, Thái Bình). Mộc bài Đa Bối khắc năm 1269 cũng ghi rõ Thiên Trường và Long Hưng được gọi là phủ, chứ không phải là lộ. Nhưng cả hai mới có một An phủ sứ ty với người đứng đầu là an phủ sứ tương đương chức tổng đốc ở thời Nguyễn cai quản liên tỉnh như tổng đốc Hà Ninh( Hà Nội và Ninh Bình) Hoàng Diệu… Phó quan là phó sứ cùng các chức quan khác là Thông phán, Thủ phần như mộc bài Đa Bối đã ghi khá rõ. Chính là vùng đất Thiên Trường Long Hưng này sang thời Lê Mạc được gộp lại thành đạo Sơn Nam có lị sở đặt tại Hiến Nam(Phố Hiến Hưng Yên ngày nay). Tuy nhiên lỵ sở của An phủ sứ ty lộ Thiên Trường –  Long Hưng thời Trần lại được đóng chính ở phủ Thiên Trường. Vì thế các quan lại An phủ sứ ty này cho cắm mốc phân đất trên cánh đồng Đa Bối thuộc về phủ Thiên Trường dưới thời Trần. Điều đó hoàn toàn phù hợp với một thực tế là Thiên Trường vừa là đất tổ vừa là hành cung của Hoàng gia nhà Trần, đồng thời là lỵ sở của chính quyền địa phương. Do đó Thiên Trường như kinh đô thứ hai, nơi diễn ra nhiều hoạt động, chính trị tôn giáo khá sôi nổi, như sao chép kinhĐại Tạng, giảng kinh Giới thí…

Mùa xuân ( 1295), tháng2, ngày mồng 1, sứ Nguyên Tiêu Thái Đăng sang. Vua Trần Anh Tông sai Hội viên ngoại Lang Trần Khắc Dụng, Phạm Thảo cùng đi theo, nhận được bộ kinh Đại Tạng đem về để ở phủ Thiên Trường in bản phó để lưu hành”[3] 

Quý Mão Hư­ng Long thứ 11 (1303), mùa xuân tháng giêng, ngày 15 vua Bụt Trần Nhân Tông ở phủ Thiên Trư­ờng mở hội Vô Lư­ợng Pháp tại chùa Phổ Minh, bố thí vàng bạc, tiền lụa để chẩn cấp cho dân nghèo trong nư­ớc và giảng kinh Giới thí…”[4]

Bấy giờ (1320), Bảo Từ thái hậu cho gọi sư Phổ Huệ đến chùa Phổ Minh mở hội Quán đỉnh”[5] 

lễ hội đền trần
Gióng trống khai hội

Thiên Trường là nơi họp chầu, quyết định những sự việc trọng yếu của vua tôi nhà Trần, là nơi diễn ra các sự kiện văn hóa trọng đại lúc bấy giờ như tổ chức đại lễ thắng trận, lễ hội, tổ chức các hoạt động thiện tâm. Đặc biệt là lễ khai ấn đầu xuân. Tương truyền vào thời Trần hàng năm vào ngày 23 tháng chạp triều đình nghỉ ăn tết. Mãi đến tết Nguyên tiêu (15 tháng giêng) các cơ quan nhà nước mới trở lại làm việc bình thường. Ngày làm việc đầu tiên trong năm rất trọng thể. Các dấu ấn đã niêm phong cất đi nghỉ ăn tết nay được lấy ra lau chùi sạch sẽ.  Triều đình tổ chức lễ cáo trời đất sau đó nhà vua sẽ đóng con dấu đầu tiên để mở đầu cho một năm làm việc và mong cho mọi sự tốt lành. Thiên Trường Tức Mặc dưới thời Trần là một đơn vị hành chính lớn. Nơi đây có Thái thượng hoàng về sinh sống cùng nhiều quan lại của triều đình cũng có mặt. Hằng năm nhân ngày đầu năm lễ khai ấn sẽ trực tiếp do các An phủ sứ phủ Thiên Trường điều hành, có sự tham gia của các Thái thượng hoàng.Khi nhà Trần suy vong, hành đô Thiên Trường – Tức Mặc cũng theo năm tháng tàn lụi dần. Nhưng lễ tục khai ấn vào đêm 14 tháng giêng vẫn được dân thôn duy trì theo lệ cổ qua dáu ấn Hán Nôm của quan Lại bộ Tả Thi lang Đỗ Hựu ghi lại vào tối 14 khi đi thăm hội Khai ấn cùng sách Nam Định dư địa chí của Nguyễn Ôn Ngọc, Sách Nam Định địa dư chí lược của Tế tửu Quốc tử giám Tiến sĩ Khiếu Năng Tĩnh đầu thế kỷ XX mục phong tục viết đền thờ các vua Trần ở xã Tức Mặc hàng năm đến ngày rằm tháng giêng có hội vật, tế cá, thi thơ… Như vậy cùng với lễ khai ấn tại đền Trần nhân dân địa phương còn tổ chức nhiều nghi lễ truyền thống và các trò chơi dân gian. Những năm gần đây những nghi thức này gần như không được tổ chức mà chỉ tập trung vào lễ tục khai ấn. Mặc dù lễ tục khai ấn chính thức diễn ra vào đêm 14 rạng ngày !5 tháng giêng nhưng bắt đầu từ giao thừa nhân dân từ khắp nơi đã đổ dồn về khu di tích đền Trần, chùa Tháp lễ phật, lễ vua, lễ Thánh cầu phúc, cầu lộc, cầu tài cho một năm mới. Lễ tục khai ấn cũng vì thế đã trở thành một ngày lễ cầu may, cầu phúc và diễn ra vào dịp  đầu năm nên ngày càng thu hút được sự quan tâm của nhiều người thuộc đủ mọi tầng lớp tham gia. Đến với lễ tục khai ấn đầu xuân, du khách thập phương không chỉ thỏa mãn ước nguyện cầu lộc, cầu tài, cầu bình an mà còn tận mắt chiêm ngưỡng vẻ đẹp của quần thể đền Trần , chùa Tháp, những công trình kiến trúc như chân tảng đá hoa sen thời Trần. Những văn bia, câu đối, đại tự có giá trị ghi lại phong tục tập quán, hội hè… đây chính là địa chỉ để các  nhà nghiên cứu về khảo cổ học, dân tộc học, tín ngưỡng dân gian… Đó chính là không gian thiêng để lễ hội khai ấn có sức sống lâu bền nó trường tồn mãi cùng thời gian .. Nhiều du khách muốn đến với lễ khai ấn đầu năm để tìm hiểu nét đẹp văn hoá truyền thống, có ngư­­ời coi đây nh­­ư một dịp du xuân độc đáo và mọi ng­­ời đến khu di tích đền Trần – chùa Tháp dâng h­ương tư­­ởng niệm đều mong muốn đ­­ược ban ph­úc lành cho gia đình và bản thân. Một điều rất có ý nghĩa trong nội dung lá ấn còn có dòng chữ: “Tích phúc vô cương”. Chữ tích ở đây có nghĩa là ban cho. Vậy du khách về dự lễ hội đền Trần nhận đư­ợc ấn lộc đầu xuân nghĩa là được vua ban cho mọi điều phúc lành
Trịnh Thị Nga
Ban quản lí khu di tích đền Trần, chùa Tháp – Thành Phố Nam Định


lễ hội đền trần
rước kiệu thánh

[1]Phùng Tá Chu (? – 1240) là con Phùng Tá Thang làm quan dư­ới triều Lý. Khi Trần Cảnh lên ngôi, ban đầu để thư­ởng công cho các cựu thần nhà Lý đã phong cho Phùng Tá Chu làm Thái phó, tư­ớc Hư­ng nhân vư­ơng, sau lại gia phong thêm đại vư­ơng

[2] Là một cột mốc danh giới ruộng đất cấp phát đất thời Trần được phát hiện năm 1960 khi gia đình ông Vũ Đình Kha thôn Bái Thượng, xã Thái Phú huyện Thái Thụy tỉnh Thái Binh đào giếng nước. Mộc Bài hiện đã được đưa về Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. Phiên bản hiện đang được trưng bày tại nhà trưng bày đền Trần, phường Lộc Vượng thành phố Nam Định
[3] Đại Việt sử ký toàn thư,tập 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1998, tr 73

[4] Đại Việt sử ký toàn thư, Sdd tr 86

[5] Đại  Việt sử ký toàn thư, Sdd tr 107

Làng nghề Cát Đằng cung cấp thông tin chi tiết về bài viết
Chơi xuân tìm hiểu về lịch sử lễ hội đền Trần
Tên bài báo
Chơi xuân tìm hiểu về lịch sử lễ hội đền Trần
Thông tin mô tả chi tiết
Nhiều người không lạ lẫm gì với lễ hội đền Trần lễ hội lớn nhất nhất niềm bắc về quy mô lẫn độ linh thiêng nhưng nhiều người vẫn chưa hiểu được nguồn gốc của lễ hội được bắt đầu từ bao giờ và ngày diễn ra bao nhiêu hãy cùng Làng Nghề Cát Đằng tìm hiểu về lễ hội đền Trần đến quý khách thập phương.
Nhà báo
Bản quyền nội dung
Làng nghề Cát Đằng
Logo
Hotline: 0353.247.247
Chat Facebook
Gọi điện ngay