101 lượt xem

Trần Nhân Tông, Vị vua anh minh – Phật Hoàng của nước Đại Việt

trần nhân tông

Trần Nhân Tông, Vị vua anh minh – Phật Hoàng của nước Đại Việt

Hoàng đế Trần Nhân Tông,tên huý là Trần Khâm quê ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường( nay thuộc phường Lộc Vượng thành phố Nam Định), là con trưởng của Thượng hoàng Trần Thánh Tông, mẹ là Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng Thái Hậu

trần nhân tông
thờ vua trần

Ông sinh ngày 11 tháng 11 năm Mậu Ngọ (1258) có thần khí tươi sáng, dáng mạo khác thường, vai bên trái có nốt ruồi đen tương truyền là Kim Tiên đồng tử giáng trần.Thuở nhỏ vốn thông minh lại được Thượng hoàng quan tâm dạy dỗ nên kiến thức ngày càng mở mang. Thượng hoàng Thánh Tông còn trực tiếp viết thơ dạy bảo do vậy Trần Khâm ngày càng ý thức được việc học hỏi nghiên cứu là cần thiết liên quan đến việc trị quốc an dân. Ngày 22 tháng 10 năm Mậu Thân (1278), Trần Nhân Tông lên ngôi Hoàng đế xưng là Hiếu Hoàng, quần thần suy tôn là Pháp Thiên Ngự Cực Anh Liệt Vũ Thanh Minh Nhân Hoàng Đế.

15 năm làm vua, từ năm Mậu Dần (1278) đến năm Quý Mão (1293) niên hiệu là Thiệu Bảo (1279- 1284) và Trùng Hưng (1285- 1293),

Nhân Tông làm vua thời kỳ đất nước đứng trước hiểm hoạ xâm lược, với tư chất thông minh, lại được nuôi dạy chu đáo. Trần Nhân Tông đã nhanh chóng lĩnh hội được những tri thức về trị quốc an dân của nho giáo, tinh thần cao đẹp của phật giáo. Đức Vua cũng đã kế thừa được những kinh nghiệm trong việc nội trị và ngoại giao của các bậc tiền nhân. Điều này có ảnh hưởng lớn đến cuộc đời và sự nghiệp của Người

Nói đến Đức vua Trần Nhân Tông, trước hết nói đến người anh hùng cứu nước cứu dân. Trong chiến tranh chống quân Nguyên xâm lược, vua Nhân Tông là một nhà chiến lược và chỉ huy tài giỏi. Người là một vị vua nổi tiếng khoan hoà nhân ái đã xây dựng được khối đại đoàn kết từ trong hoàng tộc đến ngoài muôn dân. Dưới triều đại ông có hai sự kiện lớn liên quan đến vận mệnh đất nước đó là Hội nghị tướng lĩnh vương hầu ở Bình Than (Trần Xá, Hải Dương) và Hội nghị bô lão tại thềm điện Diên Hồng (nay là Ba Đình Hà Nội). Đương đầu với hai lần tấn công của đội quân xâm lược hùng mạnh (1285 và 1288). Ông đã cố kết được lòng dân trọng dụng người tài, thu phục tướng giỏi, động viên được tài trí của cả nước cùng một lòng đáng giặc, bảo vệ nền độc lập cho nước nhà. Ông còn là nhà văn hoá, nhà thơ xuất sắc thời Trần, là người sáng lập ra dòng thiền Trúc Lâm dòng thiền đặc trưng của Việt Nam, được Phật giáo Việt Nam tôn vinh là Phật Hoàng. Ông còn là tác giả của nhiều tác phẩm nổi tiếng: “Trần Nhân Tông thi tập”, “Đại Hương Hải ấn thi tập”, “Tăng già toái sự”…

trần nhân tông
đền thờ họ Trần ở Phú Quốc

Ngày 17 tháng 3 năm Mậu Tý (1288), sau hai lần quét sạch giặc Nguyên ra khỏi bờ cõi đức vua Trần Nhân Tông. Đứng trước tòa lăng bị quân thù đào bới ngổn ngang chỉ còn trơ lại mấy pho tượng ngựa đá lấm bùn, vị Hoàng đế anh hùng Trần Nhân Tông không ngăn nổi xúc cảm đối ngay với những con ngựa đá vô tri vô giác, bút rồng đề thơ:

‘’Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã
Sơn hà thiên cổ điện kim âu.’’

Có nghĩa là:

“Xã tắc hai phen chồn ngựa đá
Non sông nghìn thưở vững âu vàng.”

Sau đó Người đã dành trọn 5 năm từ đầu năm Mậu Tý (1288) đến cuối xuân Quý Tỵ (1293) trực tiếp lãnh đạo nhân dân Đại Việt trong sự nghiệp hàn gắn vết thương chiến tranh, dựng xây đất nước đồng thời bền bỉ đấu tranh ngoại giao nhằm đè bẹp ý chí xâm lược của kẻ thù để nhân dân ta dồn sức cho công cuộc tái thiết hòa bình.

Ngày mồng 9 tháng 3 năm Quý Tỵ (1293) Hoàng đế Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con trai dòng đích trưởng là Hoàng tử Thuyên (tức Anh Tông hoàng đế) còn mình làm Thái Thượng hoàng vừa lo việc đời, vừa chăm việc đạo. Năm Giáp Ngọ (1294), tháng 7 Thượng hoàng xuất gia tại am Vũ Lâm, Yên Khánh Ninh Bình. Tháng 5, năm Kỷ Hợi (1299) Thượng hoàng Trần Nhân Tông từ phủ Thiên Trường về kinh bắt gặp vua Anh Tông uống rượu sương bồ, Thượng hoàng định truất ngôi. Sau vua Anh Tông phải nhờ Đoàn Nhữ Hài dâng biểu tạ tội Thượng hoàng mới tha. Tháng 7, Người chỉ đạo dựng am Ngự Dược xuất gia chuyên tu theo hạnh đầu đà (khổ hạnh) trên núi Yên Tử khoảng 18 tháng.

Năm Tân Sửu (1301), mùa xuân thành đạo, trở thành vị vua bụt của Đại Việt với pháp danh Điều Ngự Giác Hoàng (một trong mười pháp danh của phật tổ). Ông sáng tác bài phú Đắc Lâm Tuyền thành đạo ca, sáng lập dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử mang sắc thái riêng của Đại Việt. Tháng 3, Điều Ngự Giác Hoàng đi thăm các nơi tìm hiểu mặt bằng tín ngưỡng trong dân chúng để chuẩn bị công cuộc giáo hóa,

Năm Quý Mão Hưng Long thứ11 (1303), mùa xuân tháng giêng, ngày 15 Vua Bụt Trần Nhân Tông ở phủ Thiên Trường mở hội Vô Lượng Pháp tại chùa Phổ Minh, bố thí vàng bạc, tiền lụa đế chẩn cấp cho dân nghèo trong nước và giảng kinh Giới thí.

trần nhân tông
lễ tưởng niệm phật hoàng

Gần khu vực Thiên Trường, Người đến thăm: chùa  Vọc thôn Thành Thị, chùa Đô Quan, xã Mộc Nam, chùa Ông, xã Tượng LÜnh thuộc trấn Sơn Nam Thượng. Chùa Huyền Đô huyên Mỹ Lộc, chùa Dưỡng Chính, Yên Khánh, Ý Yên thuộc trấn Sơn Nam Hạ. Ca ngợi cảnh đẹp cố quý hương Phật Hoàng có thơ đề:

Ngày mùng 3 tháng 11 năm Mậu Thân (1308) Vua Phật Hoàng Trần Nhân Tông viên tịch tại am Ngoạ Vân núi Yên Tử. Sau khi người mất thi hài đã được hoả táng. Theo truyền thuyết xá lỵ của Phật Hoàng thu được 21 viên, 7 viên táng ở Yên Tử ( Quảng Ninh), 7 viên táng ở chùa Phả Lại ( Hải Dương) còn 7 viên đưa về quê hương Tức Mặc, vua Trần Anh Tông đưa xá lỵ của Phật Hoàng vào hòm đá quý rồi đặt vào trong tháp Phổ Minh.

Cuộc đời và sự nghiệp của Phật Hoàng Trần Nhân Tông dù làm vua, làm Thái Thượng hoàng hay nhìn qua lăng kính của một vị chân tu, Người rất quan tâm đến chốn cố hương. Chùa làng đất phật còn truyền tụng câu ca dao:

“ Dù ai tranh bá đồ vương
Trẫm xin gửi lại nắm xương chùa này”

  Chính vì vậy nên trước cửa chùa Phổ Minh còn lại sừng sững  cây tháp cao 19,51m do vua Trần Anh Tông cho xây dựng để đựng xá lỵ Phật Hoàng Trần Nhân Tông. Đây là một công trình kiến trúc độc đáo thời Trần còn được bảo tồn. Tháp Phổ Minh tượng trưng cho hình tượng hoa sen mọc giữa hồ sen trong tư thế vươn cao, lan tỏa tâm linh của thiền phái Trúc Lâm nhập thế độc lập và tự chủ.

trần nhân tông
lễ ra mắt viện Trần Nhân Tông

Tại tòa thượng điện chùa Phổ Minh còn có tượng Phật Hoàng Trần Nhân Tông nhập niết bàn đây là một di vật tiêu biểu thời Hậu Lê (TK XVII) còn lưu giữ được. Tượng được tạc theo thế tượng phật niết bàn to như người thật, tay trái chống đầu, tay phải đặt nhẹ lên trên đầu gối, mặt hơi nghểnh lên vẻ từ bi, thư thái. Áo cà sa hở một, vạt áo, hộ tâm đều được tạo nếp gấp mềm mại. Đây là một pho tượng nhập niết bàn cổ nhất được các nhà nghiên cứu đánh giá cao.

Làng nghề Cát Đằng cung cấp thông tin chi tiết về bài viết
Trần Nhân Tông, Vị vua anh minh – Phật Hoàng của nước Đại Việt
Tên bài báo
Trần Nhân Tông, Vị vua anh minh – Phật Hoàng của nước Đại Việt
Thông tin mô tả chi tiết
Hoàng đế Trần Nhân Tông,tên huý là Trần Khâm quê ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường( nay thuộc phường Lộc Vượng thành phố Nam Định), là con trưởng của Thượng hoàng Trần Thánh Tông, mẹ là Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng Thái Hậu
Nhà báo
Bản quyền nội dung
Làng nghề Cát Đằng
Logo
Hotline: 0353.247.247
Chat Facebook
Gọi điện ngay