42 lượt xem

Dấu ấn Hán Nôm phủ Quảng Cung

phủ quảng cung

Dấu ấn Hán Nôm phủ Quảng Cung

Tháng 01 năm 2005, Phủ Quảng Cung (thôn Vỉ Nhuế, xã Yên Đồng, huyện Ý Yên tỉnh Nam Định) đã được Uỷ ban Nhân dân tỉnh Nam Định cấp bằng công nhận “ Di tích lịch sử – văn hoá”. Trước đó, vào năm 2003, trong dịp điền dã tại một số di tích thuộc huyện Ý Yên, chúng tôi đã đến Phủ Quảng Cung, còn gọi là Phủ Nấp. Tại đây, chúng tôi đã thống kê được 83 hiện vật đồ thờ (Chú thích của người biên tập Chu Xuân Giao) Bảng kê khai hiện vật tại Phủ Quảng Cung ở thời điểm 2003 mang tiêu đề “Bảng kê di vật hiện có tại Phủ Quảng Cung” (Trịnh Thị Nga thống kê ngày 20/10/2003) là một tư liệu trong Lý lịch Di tích Lịch sử Văn hóa Phủ Quảng Cung (Ban Quản lý Di tích và Danh thắng, Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Nam Định, 2004), hiện được lưu đồng thời tại Ban Quản lý Di tích và Danh thắng Nam Định và Phủ Nấp; trong đó, có những hiện vật trọng yếu đối với việc nghiên cứu di tích, như văn bia, sắc phong, thần tích/thần phả, câu đối, đại tự

phủ quảng cung
lễ hội phủ quảng cung

Phủ Quảng Cung là di tích thờ mẫu Liễu Hạnh – một trong “tứ bất tử” của tín ngưỡng Việt Nam, một nhân vật văn hoá, vừa là Thần như sắc phong, vừa là Thánh như dân gian phong, lại là Phật là Tiên như trong sự tích.
Dưới đây, chúng tôi xin tóm tắt giới thiệu về một số tư liệu Hán Nôm quan trọng từ góc độ sưu tầm và chỉnh lí tư liệu của cán bộ văn hóa tại cơ sở.
Trước hết, xin ghi khái quát về ba lần sinh hoá, tức “ tam sinh tam hoá”, của Mẫu Liễu ở nơi trần thế.
Lần thứ nhất: tiền thân của Mẫu là tiên nữ của Ngọc Hoàng đầu thai vào nhà họ Phạm từ năm Thiệu Bình thứ nhất (1434) đời vua Lê Thái Tông ở xã Vỉ Nhuế, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định (nay là thôn Vỉ Nhuế, xã Yên Đồng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định). Bà tên là Phạm Thị Nga (có sách chép Phạm Tiên Nga), không lấy chồng, mà ở vậy phụng dưỡng cha mẹ. Sau khi bố mẹ lần lượt qua đời, bà lập chùa đi tu, có công tu sửa chùa Chương Sơn (Ý Yên), chùa Long Sơn (Duy Tiên), chùa Thiện Thành (Bình Lục-Hà Nam). Năm 40 tuổi, bà qua đời, trở về thiên đình. Dân làng Vỉ Nhuế lập phủ thờ bà. Đây là tiền thân của Mẫu Liễu Hạnh.
Lần thứ hai: bà giáng sinh lần thứ hai vào nhà họ Lê thôn Vân Cát, vào năm Thiên Hựu thứ nhất( 1557). Sau làm dâu nhà họ Trần ở thôn Tiên Hương, đều thuộc xã Kim Thái huyện Thiên Bản (nay là huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định), Bà trở về trời năm 21 tuổi.
Lần thứ ba: ngài giáng sinh xuống Làng Sóc (Tây Mỗ, Thanh Hoá), lấy chồng là Mai Sinh.

phủ quảng cung
rước kiệu khai mạc lễ hội

Trong các công trình khoa học nghiên cứu về Mẫu Liễu Hạnh từ trước đến nay, phần nhiều là chỉ nghiên cứu lần giáng sinh thứ hai ở Vân Cát (Vụ Bản) gắn với phủ Tiên Hương và lễ hội phủ Giầy, và lần giáng sinh thứ ba ở làng Sóc (Tây Mỗ, Thanh Hoá). Trong khuôn khổ báo cáo này, chúng tôi đi sâu vào bút tích của người xưa (chủ yếu là thư tịch Hán Nôm) ghi việc giáng sinh lần thứ nhất ở Phủ Quảng Cung hay liên quan đến Phủ Quảng Cung.

Di văn Phủ Nấp

Sách Cát thiên tam thế thực lục: Đây là một cuốn sách có niên đại triều vua Duy Tân (1913) do Thánh Mẫu phụ đồng vào ông Đoàn Tử Duyệt2 Ông là học trò của  Khiếu Năng Tĩnh,  giữ từ đền Quảng Nạp nên đã ngồi đồng nhiều đêm tại phủ Quảng Cung. người xã Vỉ Nhuế. Sách hiện đang lưu giữ tại phủ Quảng Cung, xã Yên Đồng, huyện Ý Yên. Nội dung có kể sự tích Thánh Mẫu: là con thứ hai của Thượng Đế, ba lần giáng sinh xuống trần thế, lần đầu tiên ở Vỉ Nhuế, lần thứ hai ở Vân Cát (Vụ Bản), lần thứ ba tại Tây Mỗ (Thanh Hoá). Nhưng hiện tại (thời điểm năm 1913), Vân Cát và Tây Mỗ thì nổi tiếng, còn Vỉ Nhuế  thì vắng vẻ ít người biết, phải chăng vì tung tích đã đắm chìm mờ mịt?
Có nhiều nhà khoa bảng đương thời tham gia viết tựa, tán, bạt, đề từ của sách, như Đốc học Bắc Ninh Trần Xuân Thiều, Tiến sĩ Đốc học Hải Phòng Nguyễn Văn Tính, Phó bảng Đốc học trí sĩ Đặng Quỹ, Đông La Đỗ Huy Liêu, Tế Tửu Quốc Tử Giám Khiếu Năng Tĩnh, Tổng đốc Nam Định Đoàn Triển.
Khiếu Năng Tĩnh (1833 -1915) khi về trí sĩ có công tu bổ phủ Quảng Cung, và là người viết lời bạt sách Cát thiên tam thế thực lục. Xin mượn đôi lời nhận xét của người xưa (thông qua giáng bút) về lời bạt của họ Khiếu:

lễ hội truyền thống

“Phụng phê: Ngọc phả ghi lại một sự việc, tuy thời gian đã lâu làm cho chìm đắm, không có một lần giáng bảo cho biết, thì ai căn cứ vào đâu mà hiểu được. Phúc thần làm biểu văn toàn dụng thực tự, bạt văn toàn dùng sinh tự, hai thiên, văn điệu sâu sắc theo lối cổ xưa. Thực khen tay bút già dặn của quan Khiếu Tham tri, bạt văn giản dị mà rất hay.”
Sách còn có lời giáng bút của Trần Hưng Đạo, Nguyễn Bỉnh Khiêm và các vị Tiên Hương Thánh Mẫu, Mai Hoa công chúa, Quế Hoa công chúa, Đào Hoa công chúa, Lam Hông tiên ông.
Ngoài cuốn Cát thiên tam thế thực lục đã nói đến ở trên, ở Phủ Nấp hiện nay còn thấy có một số câu đối nói về các lần sinh hóa của Mẫu Liễu.
Câu đối thứ nhất:

Giáng vu Vỉ Nhuế do tiền sự,
Địa hữu Sòng Sơn thuộc hậu thời.

(Tạm dịch:

Sinh nơi Vỉ Nhuế là thân trước,
Việc đất Sòng Sơn ấy kiếp sau)

Câu đối thứ hai:

    Thiệu Bình đầu nhập Phạm gia nhân hiến chí kim dư phong tại
Hồng Đức hoá hồi để sở anh linh tự cổ thạch bia truyền.

(Tạm dịch:

Năm Thiệu Bình đầu thai nhà họ Phạm nhân hiến đến nay vẫn làm gương soi khắp,
Đến đời Hồng Đức thác hoá về chốn tiên linh thiêng từ xưa bia đá vẫn còn truyền)

Sắc phong:

Quảng Cung linh từ phả ký của Tiến sỹ Vũ Huy Trác (sẽ nhắc đến ở dưới) có cho biết: khi Mẫu hoá có nhiều sự linh thiêng phù giúp đất nước và bảo vệ che chở cho nhân dân, nên đã được triều đình nhà Lê ban tặng nhiều sắc phong, cho đến năm 1781 đã có tới 23 đạo sắc phong. Tuy nhiên, do thời gian, thiên nhiên và chiến tranh, những đạo săc thời Lê đã bị thất lạc.
Đến thời Nguyễn, sách Cát thiên tam thế thực lục có cho biết: “Đông La đại nhân làm ba câu đối, một bài văn tán bách dược rồi trình lên quan Kinh lược đại thần đề tấu khâm ban sắc văn phụng thờ để báo đáp lại ơn đức lớn lao của Mẫu”. Triều Nguyễn đã ban tặng cho đền Quảng Cung nhiều sắc phong.
Theo kiểm kê di tích các năm 1962, 1978, 2004, Phủ Quảng Cung hiện còn lưu giữ được 04 đạo sắc phong, trong đó: có 01 đạo sắc niên hiệu Thành Thái 3 (1891), 01 đạo sắc niên hiệu Duy Tân 3 (1909), 02 đạo sắc niên hiệu Khải Định thứ 9 (1924).
Văn bia: Có một số tấm bia hiện còn thấy trong khuôn viên Phủ Nấp.
Một bia được làm bằng chất liệu đá Thanh khắc chữ Hán, kích thước 119 cm (cao) – 70 cm (rộng), ghi về sự tích ba lần sinh hoá của Mẫu Liễu (Chú thích của cxg): Tác giả muốn nói về tấm bia Quảng Cung linh từ bi kí do Nguyễn Đình Việp soạn năm 1741.
Một bia khác được làm bằng chất liệu đá Thanh, kích thước 88 cm (cao) – 46 cm (rộng) – 11cm (dày), mang niên đại Bảo Đại Bính Tý (1936), là bia công đức.
Một bia hình trụ khắc chữ ở bốn mặt, kích thước 95 cm (cao) –  60cm (rộng), cũng là bia công đức (Chú thích của cxg): Tác giả muốn nói về tấm bia Trần Xá xã liệt tiên công khải xã từ thạch bi kí do Đặng Phi Hiển soạn năm 1623.

phủ quảng cung
không gian bên trong phủ

Có nhiều văn nhân các thời đại đã đề thơ hay lưu bút tích ở Phủ Nấp, trong đó, có hai người tiêu biểu là Đặng Phi Hiển (thế kỉ XVII) và Vũ Huy Trác (thế kỉ XVIII).
Ông Đặng Phi Hiển (1603-1678) khi sinh thời có lẽ thường qua lại Phủ Quảng Cung, có để lại một bài thơ nói về sự tích và công ơn của Mẫu. Nguyên văn chữ Hán như sau (Chú thích của cxg): Ở đây, tác giả dẫn theo bản chữ Hán và phiên âm dịch nghĩa trong cuốn Tiến sĩ Đặng Phi Hiển thân thế và thơ văn (Hoàng Dương Chương- Dương văn Vượng, Nxb Hội Nhà văn, 2009, trang 62 – 63):
Phiên âm:

                Trần Xá Thánh Mẫu
Trần Xá Thiệu Bình đệ nhất niên,
Ngọc Hoàng nhị nữ giáng nam thiên.
Phạm môn hữu phúc sinh hiền nữ,
Nhuế địa ưng tri hữu túc duyên.
Hiếu đối song thân ninh bất tự,
Nhân vu tứ ấp quán vô tiền.
Thuỷ chung lược tự phàm nhân kiếp,
Hoá hậu linh thanh thượng kế truyền.

Dịch nghĩa:

     Vị Thánh mẫu Trần Xá
Năm Thiệu Bình thứ nhất (1434) ở xã Trần Xá,
Có con gái thứ hai của Ngọc Hoàng xuống đất phương Nam.
Nhà họ Phạm có phúc sinh được người con gái hiền,
Đất làng Nhuế phải biết mình có duyên xưa.
Mẫu giữ hiếu với cha mẹ, quyết chẳng lấy chồng,
Làm việc nhân ở quanh vùng, hơn người đời trước.
Cuộc đời thường ngày của Mẫu thấy cũng tương tự người bình thường,
Sau khi mất thì linh thiêng rõ rệt và truyền tiếp mãi.

Dịch thơ:

Trần xáThiệu Bình đệ nhất niên,
Ngọc Hoàng thứ nữ giáng Nam thiên.
Phạm gia có phúc sinh hiền nữ,
Thôn Nhuế quê nhà đất đẹp duyên.
Phụng dưỡng mẹ cha không xuất giá,
Đối nhân xử thế đức lưu truyền.
Thường ngày Mẫu sống đời không lạ,
Khi chết linh thiêng được kế truyền.

Ông Vũ Huy Trác (1730-1793), trong tập  Giang Nam lão phố thi tập, có một bài thơ     nhắc đến việc Mẫu giáng sinh lần đầu tiên xuống nhà họ Phạm, nguyên văn nhu sau (Chú thích của cxg): ở đây, tác giả dẫn bản chữ Hán và phiên âm dịch nghĩa từ cuốn Tiến sĩ Vũ Huy Trác (Hoàng Dương Chương, Trần Mỹ Giống, Sở Văn hóa Thông tin Nam Định, 2008, trang 70 -80):
Phiên âm:

    Quá Phạm tổ từ
Tằng văn thử xứ Phạm Gia từ,
Nhị sĩ vi quan tổ ấp cư.
Trần đại dĩ tiêu văn võ lược,
Lê gia thuỷ trước hổ long thư.
Đại chi Nam trụ Minh xâm nhật,
Trọng thị do truyền ngọc nữ du.
Đệ nhất thác sinh tòng cố huyện,
Nhân gian phụng sự kỷ thành thi.

Dịch nghĩa:

    Qua đền thờ tổ họ Phạm
Từng nghe đây là nhà thờ của họ Phạm, có hai vị quan mà quê tổ chính ở đó. Vào thời nhà Trần đã có người nổi danh văn võ, đến thời Lê lại có tiếng trong bảng rồng, bảng hổ. Chi cả rời về nam từ khi quân Minh xâm lược. Còn chi thứ thì truyền rằng sinh ra vị ngọc nữ, lần thứ nhất thác sinh từ nơi huyện cũ. Chốn nhân gian  biết phụng sự đã có biết bao lời thơ đề vịnh.

Dịch thơ:

Nghe nói nơi đây thờ Phạm Gia,
Làm quan hai vị, tổ quê nhà.
Thời Trần văn võ oai linh nổi,
Rồng, hổ thời Lê, bảng đại khoa.
Chi cả về Nam, Minh chiếm nước,
Chi sau ngọc nữ được sinh ra.
Thác sinh huyện cũ lần đầu ấy,
Phụng sự nhân gian đặt thi ca.

Đặc biệt, theo Quảng Cung linh từ phả ký do Tiến sĩ Vũ Huy Trác (1730-1793) soạn thì, phủ Quảng Cung được trùng tu lớn vào năm Tân Sửu (1781), nhân dịp ngày kỵ của Mẫu, là ngày mồng 2 tháng 3,  nhân dân địa phương làm lễ khánh thành, được vua ban hai tấm biển có chữ “ Ba khê dị tích”, “Tứ hải kỳ tung”. Hiện nay trong phủ có treo bức đại tự bằng gỗ “Ba Khê dị tích” tại chính cung toà đệ nhị.

Di văn Hán Nôm tại một số nơi khác có liên quan đến Phủ Nấp

Phủ Giầy:

tại phủ Tiên Hương, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản có một số tư liệu Hán Nôm liên quan đến Phủ Nấp. ở đây, chi nêu một tư liệu tiêu biểu. Đó là câu đối treo tại toà bái đường. Nguyên văn chữ Hán như sau:
Tam thế luân hồi, vu Vỉ Nhuế, vu Vân Cát, Vu Nga Sơn, Ngũ Bách dư niên Quang thực lục,
Lịch triều ba cổn, vi đế nữ, vi đại vương, vi chúng mẫu, Ứ c thiên vạn cổ điện danh bang.
Long phi Quý Sửu thu,

phủ quảng cung
rước kiệu lễ hội

Thanh Hoá tỉnh Đốc học Lê Hy Vĩnh phụng soạn.
(Tạm dịch:
Ba đời thay đổi, ở Vỉ Nhuế, ở Vân Cát, ở Nga Sơn, đến nay đã hơn trăm  năm, sự tích sáng ngời trong thực lục,
Các triều phong tặng, là con vua, là Đại Vương, là các mẹ Các mẹ: Mẹ đẻ của hai con Nhâm và Cổn, mẹ có lòng nhân từ giúp người nghèo khó, mẹ gương mẫu trong chốn buồng the (lời dịch và chú thích của Dương Văn Vượng – cxg chú) vi chúng mẫu dù cho tới muôn vạn năm sau, tiếng tăm vang động khắp nhân gian.
Rồng bay mùa thu năm Quý Sửu(1853).
Đốc học tỉnh Thanh Hoá tên là Lê Hy Vĩnh kính cẩn viết lên)
Tây Mỗ: tại đền Kẻ Sỏi ở Tây Mỗ (Thanh Hoá) có một số tư liệu liên quan. Trong đó có một câu đối lòng máng treo ở chính cung, nội dung như sau.
Tam giáng dị kỳ sinh Vỉ Nhuế, An Thái, Tây Mỗ, tự điển chí kim giai mộ đức,
Thiên thu thần bất hoá, Bắc hương, Trung đô, Thuận Hoá từ tường tự cổ ngưỡng di cao.
(Tạm dịch: Ba lần xuống trần, ở Vỉ Nhuế, ở Yên Thái, ở Tây Mỗ việc thờ tự đến nay là do mến đức,
Ngàn thu thần chẳng mất, ở Bắc hương (Lạng Sơn), Trung Đô (Hà Nội), Thuận Hoá(Huế) tấm lòng nhân từ người đời nhớ mãi không quên.
Đây là câu đối của một viên quan Bố Chính họ Nguyễn, viết và dâng vào năm Đồng Khánh 2 (1887).

Danh sĩ Khiếu Năng Tĩnh (1833-1915) và việc ghi chép về Phủ Nấp và Mẫu Liễu

Trong cuốn Tân biên Nam Định tỉnh địa dư chí lược do Khiếu  Năng Tĩnh viết vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, mục Phong tục có chép về lần giáng sinh thứ nhất như sau.
Phiên âm:
Vỉ Nhuế xã, hữu tự nữ thần, tục thần danh Phạm Thị Tiên Nga. Phụ cư La Ngạn xã, mẫu quán tại Vỉ Nhuế xã Nhuế Duệ thôn, hậu thiên Vỉ Nhuế xã Trần Xá thôn sinh thần. Cập trưởng bất tự, phụ mẫu kế một, phụng tự bất khuyết. Thần tư kim phú dụ, tiện tương tiền ngân trợ dân tu từ tự kiều lương thông lộ bần phạp. Hậu vãng Đồi Trung tạo nhất tự sở tại Đào Khê giang, tỉnh tâm phụng Phật. Quá lục niên hồi cố quán, thăng thiên. Bản xứ tư công tạo từ tri đức. Thần giáng bút xưng Ngọc Hoàng nữ

phủ quảng cung
dòng người về chảy hội phủ nấp

Lê triều Cảnh Trị niên gian hữu sắc viết Phạm gia lệnh nữ đệ nhất giáng sinh tầm thanh cứu khổ bản cảnh tôn thần. Hậu đại trung tôn đệ nhất giáng sinh Liễu Hạnh công chúa. Kim mỗi chí kị nhật, La Xuyên. Cát Đằng thuộc Vọng Doanh huyện, giai giá kiệu tề tựu Vỉ Nhuế, Nhuế Duệ, Đông La, Đồi Trung bái tổ.
(Tạm dịch:
Xã Vỉ Nhuế: có thờ nữ thần. Thần tên là Phạm Tiên Nga, quê bố ở xã La Ngạn, quê mẹ ở thôn Nhuế Duệ xã Vỉ Nhuế, bố mẹ dời xuống làng Trần Xá, xã Vỉ Nhuế sinh ra thần. Khi thần lớn lên thì thân sinh nối nhau về trời, thần không lấy chồng ở một mình phụng sự đủ lễ. Thần nghĩ nhà khá giả không có chồng con, liền đem tiền của cấp đỡ làng xã, xây dựng đền chùa, cầu cống đường xá, khơi sông ngòi cứu giúp người nghèo thiếu, rồi thần đến xã Đồi Trung, lập một ngôi chùa ở bên bờ sông Đào Khê tu hành, lễ phật, qua 6 năm thì về ở đất thân sinh ở cũ để về trời. Khi về trời rồi sở tại nhớ ơn dựng đền thờ, được thần giáng bút xưng là con gái Ngọc Hoàng.
Thời Lê Cảnh Trị có sắc phong Đệ nhất giáng sinh tầm thanh cứu khổ, Phạm gia lệnh nữ bản cảnh tôn thần, các đời sau này thì phong Đệ nhất giáng sinh Liễu Hạnh công chúa. Nay mỗi khi đến ngày kị thì ở La Xuyên Cát Đằng của huyện Vọng Doanh, cũng rước xuống các đền Vỉ Nhuế, Nhuế Duệ, Đông La, Đồi Trung bái tổ)
Khiếu Năng Tĩnh khi qua Tây Mỗ Thanh Hoá, thấy có ngôi phủ thờ Mẫu, ông đã đề thơ ca ngợi,
Phiên âm:

Tây Mỗ thánh mẫu từ
Tằng văn tam độ sinh sinh hóa
Trinh hiếu tiên tương hệ thử thân
Tây Mỗ Hoàng gia vi hậu kiếp
Bắc Sơn Mai thị tục tiền ân
Dĩ hoàn trần mộng sinh nam tử
Kế dưỡng lê dân nhưỡng cổ thuần
Môn ngoại minh đường đa thuỷ tụ
Tứ thời hoa thảo chúc hương tân

Dịch nghĩa:

Đền thánh mẫu Tây Mỗ
Từng nghe Mẫu trải qua ba độ hoá sinh,
Đều lấy chữ hiếu trinh để ràng buộc tấm thân mình.
Tại đất Tây Mỗ gá vào họ Hoàng là kiếp cuối,
Nối lại duyên xưa với Mai sinh ở Bắc Sơn.
Cho vẹn ước vọng phàm trần sinh ra được một trai,
Còn dạy dỗ dân thân gây nên thói tục thuần phác thời thái cổ.
Nơi đây minh đường có nhiều thuỷ tụ,
Bốn mùa hoa cỏ đèn hương cảnh vật cũng thật tân kì.

Dịch thơ:

Từng nghe ba độ hóa sinh,
Trước sau đều lấy hiếu trinh giữ mình.
Họ Hoàng kiếp cuối rõ rành,
Nói duyên xưa với Mai sinh ở đời.
Bắc Sơn có một con trai,
Dạy dân Tây Mỗ theo thời cổ phong.
Minh đường nước rộng mênh mông,
Bốn mùa hoa cỏ đèn nhang kính thờ.

Những dấu ấn Hán Nôm, như các sách Cát thiên tam thế thực lục, Nam Định dư dịa chí,văn bia, sắc phong, câu đối đại tự, các bài thơ đề tăng của cá danh sĩ triều Lê và triều Nguyễn nêu trên, đều là những thư tịch trọng yếu để nghiên cứu về Mẫu Liễu Hạnh trong lần giáng sinh thứ nhất tại Phủ Quảng Cung

Làng nghề Cát Đằng cung cấp thông tin chi tiết về bài viết
Dấu ấn Hán Nôm phủ Quảng Cung
Tên bài báo
Dấu ấn Hán Nôm phủ Quảng Cung
Thông tin mô tả chi tiết
Tháng 01 năm 2005, Phủ Quảng Cung (thôn Vỉ Nhuế, xã Yên Đồng, huyện Ý Yên tỉnh Nam Định) đã được Uỷ ban Nhân dân tỉnh Nam Định cấp bằng công nhận “ Di tích lịch sử – văn hoá”. Trước đó, vào năm 2003, trong dịp điền dã tại một số di tích thuộc huyện Ý Yên, chúng tôi đã đến Phủ Quảng Cung, còn gọi là Phủ Nấp.
Nhà báo
Bản quyền nội dung
Làng nghề Cát Đằng
Logo
Hotline: 0353.247.247
Chat Facebook
Gọi điện ngay