33 lượt xem

Truyền thống yêu nước và chống ngoại xâm của làng Cát Đằng phần 1

Nhân dân Cát Đằng trong cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp

Người dân Cát Đằng luôn có tinh thần yêu nước chống giặc ngoại xâm.  nhân dân Cát Đằng cùng với nhân dân trong xã đã nô nức tham gia các phong trào chống thực dân Pháp.

         Ngay sau khi Thực dân Pháp đánh chiếm nước ta, năm 1858 Phạm Văn Nghị đã cùng với hơn 400 nghĩa dũng từ đất Ý Yên kéo quân vào Nam đánh Pháp.

         Nghe theo cụ nghè Tam Đăng Phạm Văn Nghị, tại Yên Tiến có Lã Xuân Oai và người học trò thân tín của mình là Phạm trọng Thứ (sau này thường gọi là Cử Thứ) đã anh dũng chiến đấu chống Pháp ngay trên quê hương mình.

         Thất bại thảm hại ở Việt Bắc năm 1947, chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh” của thực dân Pháp bị phá sản, mất quyền chủ động trên chiến trường, chúng buộc phải chuyển sang đánh kéo dài, thực hiện cuộc chiến tranh tổng lực trên các lĩnh vực chính trị, quân sự và kinh tế. Thực hiện kế hoạch này, Bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương chủ trương: “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt”. Về quân sự, chúng sử dụng chiến thuật “Siết chặt”, “vết dầu loang” mở rộng phạm vi kiểm soát và thực hiện công thức: “cứ điểm nhỏ với đội ứng chiến nhỏ” bảo vệ các địa bàn, đường giao thông quan trọng, hình thành thế bao vây, chia cắt, ngăn chặn hoạt động của ta. Đồng thời, chúng ra sức càn quét các vùng tạm chiếm hòng phá hoại tổ chức chính trị, vũ trang của ta, vơ vét của cải, bắt lính, triệt tiêu nguồn cung cấp nhân lực, vật lực, làm cho ta suy yếu, tiến tới đánh đòn quyết định. Trước tình thế đó, Hội nghị Trung ương Đảng mở rộng họp từ ngày 15 đến ngày 17/01/1948 xác định phương châm kháng chiến: kiên quyết giành quyền chủ động chiến thuật, chiến dịch, tiến tới chủ động về chiến lược; các mặt trận, chiến trường phối hợp hoạt động thống nhất, chặt chẽ trên tất cả các lĩnh vực, lấy “du kích chiến tranh là căn bản, vận động chiến là phụ trợ”nhằm tiêu hao, tiêu diệt sinh lực, phá bỏ đồn, bốt, thu hẹp phạm vi chiếm đóng của địch. Đây là nét nổi bật về nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của Đảng trong thời kỳ này của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Hệ thống cai trị của Thực dân Pháp lúc đó gồm hàng Tổng và các làng xã. Tổng Cát Đằng gồm làng Xú, Ninh Xá Thượng, Ninh Xá Hạ, La Xuyên, Trung thôn, Thượng Thôn, Tân Cầu, Đằng Chương và làng Cát Đằng. Các chức sắc của một tổng gồm chánh tổng và phó tổng. Thời kỳ đó ông Đinh Huy Khuyếch làm phó tổng và một ông ở Ninh Xá Thượng làm chánh tổng.

Các làng thành lập hội Kỷ Mục gồm chánh phó lý hương hội, tộc biểu gồm trưởng bạ, thư ký, hộ lại. phó lý mua trương, xã tuần và tuần đinh. Tổ chức này có nhiệm vụ bắt phu phen tạp dịch, thu các khoản thuế để nộp cho quân Pháp, trông giữ đê điều và đồng ruộng.

Trong số hệ thống cai trị của Thực dân Pháp, nhiều người có tinh thần yêu nước, thương dân, ủng hộ cách mạng; Điển hình tại Cát Đằng là ông Đinh Huy Đàm, thời kỳ 1926-1929, ông làm lý trưởng nhưng cũng là một cơ sở cách mạng tin cậy. Cuối năm 1929, Thực dân Pháp phát hiện, bắt giữ và giam ông tại Hỏa Lò sau đó bị bắn chết vào tháng 2 năm 1933. Hiện nay ông được công nhận là liệt sỹ.

Sau khi giành được độc lập từ tay Nhật, Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà gặp khó khăn với những đoàn quân giải giáp phát xít của Đồng Minh. Đặc biệt là đằng sau đó là quân đội Pháp, được coi là “ông chủ cũ” của xứ Đông Dương. Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà tìm mọi cách cứu vãn hòa bình, chí ít cũng làm chậm lại chiến tranh để chuẩn bị đối phó, đồng thời khéo léo tìm được thế bắt đầu chiến tranh tốt nhất có thể (hay là ít xấu nhất). Hiệp định sơ bộ Việt-Pháp (6/3/1946) rồi Tạm ước Việt–Pháp (14/9/1946) lần lượt được ký kết, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp đàm phán. Quân Tưởng Giới Thạch phải theo các điều ước rút về nước.

Phía Pháp đã gây ra nhiều vụ xung đột về cả chính trị lẫn quân sự và không chỉ ở phía nam vĩ tuyến 16. Các vụ xung đột liên tiếp xảy ra ngay ở cả bắc vĩ tuyến 16 do quân Pháp gây hấn: Lai Châu, Bắc Ninh, Hải Phòng, Lạng Sơn, Hồng Gai, Hải Dương , Hà Nội. Đặc biệt quân Pháp gây ra nhiều vụ thảm sát ở khu vực Hải Phòng và Nam Định. Tại Cát Đằng, quân Pháp đã thực hiện rất nhiều vụ thảm sát nhân dân với phương châm ba sạch “Diệt sạch, phá sạch, đốt sạch”.

Năm 1947, quân đội Pháp điều động hai ca nô xuất phát từ Vĩnh Trị đi Cầu Tào đã tiến sát vào chợ Cát Đằng bắn chết ba người gồm cụ Kháu, cụ Hỷ và cụ Tài. ngày 22 tháng 8 năm 1949, Thực dân Pháp tổ chức càn quét ở Cát Đằng, Hùng Vương và Tân Hưng, bắn chết rất nhiều người: Cụ Xã Lố, bà Đinh Chanh, cụ Khái, cụ Mứt, cụ Nhất, cụ Khóm, ông Đinh Văn Đạc, ông Đinh Gia Nô. Năm 1950, quân Pháp lại nổ súng bắn chết 5 người: cụ Khái, cụ Trình, ông Quẹn, cụ Bệu, anh Toan và bà Quản Dẫn.

Ngày 22 tháng 8 năm 1949, quân Pháp đốt Làng cháy trên 500 nóc nhà và làm 6 người bị chết cháy.

Năm 1950, tần suất càn quét, thảm sát của quân đội Pháp ngày một dầy hơn: Ngày 26/2/1950 Thực dân Pháp bắn đại bác vào Đồng Cách, có rất nhiều dân làng Cát Đằng sơ tán ở đó làm 10 người tử vong, trong đó gia đình ông Dự chết 7 người, gia đình ông Giang chết 3 người trong đó có 6 em bé. Ngay sau đó quân Pháp mở cuộc càn quét xuống Cát Đằng bắn chết cụ Trương Quang Nếnh và chỉ một tuần sau chúng lại về Cát Đằng bắt 6 người đưa ra chợ Đằng bắn chết, trong đó có ông Âu. Cuối năm 1954, cụ Kênh xóm Đông Thịnh bị Pháp bắn chết do quả đạn cối 81 ly bắn vào làng….

Từ năm 1947 đến 1954, tại Cát Đằng, Thực dân Pháp đã bắn chết 46 người trong đó có 6 em bé và 4 thiếu niên. Làng Cát Đằng thời đó trở nên trơ trụi, nhiều người dân phải đi sơ tán.

Cuối năm 1952, quân đội Pháp bị thua đau ở Ninh Bình nên đã cay cú tổ chức nhảy dù xuống địa phận Cát Đằng và đưa 8 khẩu đại bác đến đường Hạ Mã bắn xối xả vào Ninh Bình và Thành Mỹ hòng giành lại những địa danh đã bị mất.

Nghe theo tiếng gọi Toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ Tịch, hàng chục thanh niên Cát Đằng đã hăng hái, tình nguyện lên đường nhập ngũ như các anh Trần Xuân Mạc, Trương Đức Bài, Đinh Bá Cunbg, Đinh Khắc Tỵ, Trương Đức Cật, Trương Đình Ái, Đinh Văn Vượng, Đinh Khắc Huyên, Đinh Ngọc Đăng, Trịnh Ngọc Trù, Trương Ngọc Tân v.v… các anh đã dũng cảm, quyết tử cho tổ quốc quyết sinh và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

Năm 1946, đồng chí Đinh Hữu Chi, cán bộ tổ chức Cục Quân Nhu tại chiến Khu Việt Bắc đã về Cát Đằng tuyển dụng 40 thanh niên vào bộ đội lên chiến khu Việt Bắc làm công tác chế tạo vũ khí tiêu diệt địch, trong đó có các ông Đinh Khắc Hồng, Trần Xuân Phái, Đinh Hữu Tứ, Bùi Công Tư, Trương Đức Dĩ, Trần Văn Vê, Nguyễn Công Nguyện… Các ông đã không quản gian khổ, ngày đêm sáng tạo chế tạo được nhiều súng đạn.

Những người dân ở lại hậu phương đã kiên quyết bán trụ, bám đất, rào làng kháng chiến đồng thời tích cực sản xuất, cung cấp lương thực, thực phẩm cho tiền tuyến.

Năm 1945, cách mạng tháng tám thành công, chính quyền cách mạng lâm thời (Việt Minh) được thành lập; ông Ngô Văn Khối được bầu làm chủ tịch; ông Bùi Sỹ Lọc làm xã đội trưởng; ông Đinh Văn Mạch làm thôn đội trưởng, ông Ngô Văn Lân làm phó bí thư chi bộ.  Phụ nữ xã được thành lập, bà Đinh Thị Khổn làm chủ tịch hội, bà Đinh Thị Vĩnh làm phó chủ tịch và các thành viên ban chấp hành bao gồm bà Ca, bà Hải, bà Huệ và bà Nhỡ. Chính quyền cách mạng lâm thời đã phát động nhân dân tăng gia sản xuất, ngoài trồng cấy lúa, nhân dân Cát Đằng còn trồng bông tại cánh đồng sau Chùa Đại Tỷ và cửa miếu đồng thời dệt vải, thêu ren… Phong trào bình dân học vụ với phương châm “Người biết nhiều dạy người biết ít, người biết ít dạy người chưa biết“. Lớp học được mở về buổi tối ai đi học thì mang theo đèn dầu. Nhân dân Cát Đằng phát động phong trào Thanh niên ba sẵn sàng, Phụ nữ ba đảm đang; Lập hũ gạo kháng chiến v.v….

Làng nghề Cát Đằng cung cấp thông tin chi tiết về bài viết
Tên bài báo
Truyền thống yêu nước và chống ngoại xâm của làng Cát Đằng phần 1
Thông tin mô tả chi tiết
Người dân Cát Đằng luôn có tinh thần yêu nước chống giặc ngoại xâm.  nhân dân Cát Đằng cùng với nhân dân trong xã đã nô nức tham gia các phong trào chống thực dân Pháp.
Nhà báo
Bản quyền nội dung
Làng nghề Cát Đằng
Hotline: 0353.247.247
Chat Facebook
Gọi điện ngay