Truyền thống yêu nước và chống ngoại xâm của du kích Cát Đằng phần 2

Du kích Cát Đằng thời kỳ 1946-1950.

Nghe theo lời kêu gọi ” Toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh; thanh niên Cát Đằng đã nô nức tham gia vào đội du kích của xã. Chỉ sau một năm, số lượng đội du kích xã Thượng Cát (nay là xã Yên Tiến) đã có trên 100 người. Đội du kích xã Thượng Cát hoạt động có tổ chức và kỷ luật nghiêm nghặt. Để đánh lừa quân địch và mật thám, đồng thời đảm bảo lương thực, thực phẩm cho du kích hoạt động lâu dài; các thành viên đội du kích của xã luân phiên nhau vừa tham gia kháng chiến vừa sản xuất nông nghiệp ngay tại địa phương.

Nhiều hoạt động du kích trong lòng địch đã khiến quân đội Pháp hoang mang, có những trận đánh bạch binh độn thổ làm quân địch khiếp sợ. Đội du kích kiên cường bám đất, bám làng, chiến đấu kiên cường với phương châm “Lấy nhỏ đánh lớn bằng mọi hình thức: Ban đêm anh chị em du kích dùng loa kêu gọi binh lính buông súng quay về với bố mẹ, vợ con và đồng bào. Những binh lính đó đã được cách mạng khoan hồng và giúp đỡ để làm ăn sinh sống lương thiện tại quê hương; điển hình là các anh Đinh Văn Lộc, Trịnh Ngọc Tý v.v.. Vào ban ngày, các chiến sỹ du kích vẫn hăng say sản xuất để che mắt quân địch. Trong xã có nhiều gia đình nuôi, giấu cán bộ cách mạng như gia đình ông Đinh Bá Quynh, gia đình ông Đinh Bá Hữu thuộc xóm Đông Thịnh. Nhà thờ cụ Lý Đàm (họ Đinh Huy), gia đình ông Xa và gia đình ông Phung có hầm bí mật và hệ thống thoát hiểm cho cán bộ nằm vùng, trong đó điển hình là  gia đình ông Trương Đức Châu đã nuôi đội du kích hàng năm trời bằng chính nguồn lương thực, thực phẩm của gia đình.

Du kích Cát Đằng không thành lập đội quân riêng mà hoạt động chung với du kích xã Thượng Cát dưới sự chỉ đạo của cấp uỷ và chính quyền xã.

Đội du kích xã Yên Tiến thời kỳ 1946-1950:

Trương Đức ÂuĐinh Huy Quán
Đinh Văn HyNgô Văn Mễ
Đinh Hữu TrìnhNgô Văn Chấn
Đinh Văn MạchNgô Văn Hiên
Đinh Văn NghiTrương Đình Quỳ
Đinh Văn ThócNgô Văn Tình
Đinh Gia SởBùi Công Vinh
Đinh Gia DầuNgô Văn Xa
Đinh Văn ThịnhĐinh Thị Khổn
Nguyễn Thị NhỡNguyễn Trọng Hạng
Đinh Khắc PhungTrương Đức Chứng
Trương Đức CậtĐinh Văn Tơn
Đinh Văn ThámTrương Đình Mông
Đinh Thị VĩnhTrương Đức Luận
Đinh Khắc Dong

Ngô Văn Thìa
Đinh Khắc HuỳnhĐinh Thị Huề
Trịnh Trọng ThọNgô Văn Ái
Đinh Gia TớnTrương Đức Phụng
Nguyễn Trọng ChứcNgô Văn Dong

(Do hoạt động du kích cần giữ bí mật vì vậy có một số thành viên đội du kích, chúng tôi chưa thống kê được đầy đủ)

Sau đây là danh sách cấp uỷ đảng, chính quyền xã Yên Tiến trực tiếp chỉ đạo du kích xã hoạt động, thời kỳ 1946-1954

* Cấp uỷ đảng

– Ông Đinh Văn Thịnh

– Ông Tống Văn Ý

– Ông Trương Đức Châu

* Chủ tịch xã

– Ông Ngô Văn Khối: Chủ tịch cách mạng lâm thời (1946-1947)

– Ông Trương Đức Châu: Chủ tịch năm 1950-1956

Thời kỳ đầu, du kích Xã hoạt động bí mật ngay tại địa phương bằng phương thức vừa hoạt động du kích vừa tham gia sản xuất. Năm 1949 do quân địch lùng sục gắt gao nên các thành viên của Đội chuyển về đóng tại thôn Quảng Nạp, số lượng thành viên ban đầu có khoảng 20 người. Sau đó đến đầu năm 1950, theo yêu cầu nhiệm vụ chung của cuộc kháng chiến, đòi hỏi cấp thiết đẩy mạnh chiến tranh du kích để đánh vào lưng địch nhằm tạo chuyển biến thay đổi tương quan lực lượng giữa ta và địch, lực lượng du kích đã phát triển mạnh mẽ khắp các thôn trong xã, phong trào ngày càng lan rộng, thu hút đông đảo tầng lớp thanh niên, phụ nữ tham gia. Thời gian này, Nam Định bước vào thời kỳ gian khó nhất của cuộc kháng chiến, cơ sở bị đảo lộn, cán bộ bị giết, bị bắt bớ, tù đầy, một số nơi chỉ còn nữ du kích và người già trụ lại. Chiến tranh du kích đã được đẩy mạnh thu hút đông đảo thanh niên tham gia.

Du kích xã thường hoạt động liên tục từ 7 đến 10 ngày lại về địa phương sản xuất để lấy lương thực, thực phẩm đồng thời tuyên truyền, giác ngộ thanh niên địa phương quyên góp lương thực cho du kích.

Các thành viên đội du kích lợi dụng lúc trời tối đã dùng loa tự tạo đến sát đồn địch tuyên truyền, kêu gọi quân địch đầu hàng. Tháng 7 năm 1953, ông Tống Văn Ý và bà Đinh Thị Vĩnh đã dẫn tổ du kích Cát Đằng  phá tề tại thôn Thượng Cát và Tân Cát, sau đó cuối năm 1953, tổ du kích Cát Đằng phá tề tại Vũ Dương (cách Cát Đằng khoảng 4 Km) và đóng quân ở đó.

Một số du kích đã bị địch bắt giam và tra tấn dã man tại trại giam Nam Định nhưng với lòng yêu nước, căm thù giặc sâu sắc đồng thời tin tưởng, vào đường lối kháng chiến của đảng với lòng yêu thương đồng đội, đồng bào nên dù bị tra tấn, kìm kẹp rất dã man nhưng họ vẫn kiên quyết không khai các cơ sở hoạt động cách

mạng. Điển hình là ông Ngô Văn Xa, ông Đinh Gia Sở, ông Ngô Văn Chấn, ông Đinh Văn Thóc và ông Đinh Khắc Huỳnh.

Từ năm 1952, du kích Cát Đằng đẩy mạnh đánh phục kích tiêu diệt lực lượng địch, phá hết hệ thống tháp canh, hương đồn. Khu du kích được mở rộng, lực lượng du kích lại sáng tạo thêm nhiều cách đánh linh hoạt, chủ động “tìm địch mà diệt”. Từ năm 1953 đến đầu năm 1954, có rất nhiều cuộc đấu tranh chống bắt lính, đòi nhiều thanh niên thoát khỏi tay giặc. Trong công tác địch vận, nòng cốt là lực lượng phụ nữ du kích. Nhiều phụ nữ đã hy sinh anh dũng.

Du kích Thượng Cát  đã tiến sâu vào vùng địch tạm chiếm để phát động và làm nòng cốt chiến tranh du kích ở các địa phương, nhằm tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, làm thất bại chiến lược bình định của chúng. Cuối năm 1952, Đội du kích xã với số lượng  đã lên đến con số hơn 200 thành viên  nên đã  thành lập thành đại đội du kích Yên Tiến với đội ngũ cán bộ có nhiều kinh nghiệm, dày dạn trong phong trào quần chúng được điều về các địa phương trong toàn Huyện làm nòng cốt xây dựng cơ sở chính trị, tổ chức các đội quân du kích chiến đấu. Các đại đội độc lập của Huyện xác định rõ nhiệm vụ: đi cơ sở xây dựng, củng cố tổ chức và phát triển chiến tranh du kích, nên cán bộ, chiến sĩ đã không quản khó khăn, gian khổ, bí mật đi vào từng làng, xóm, từng thôn,  từng nhà dân, cả những gia đình có con em đang làm binh lính, tay sai cho địch để tuyên truyền đường lối kháng chiến, xây dựng niềm tin vào thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống thực dân Pháp do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo. Nhờ đó, phong trào nổi dậy diệt tề, trừ gian, nhổ đồn bốt địch ở vùng tạm chiếm phát triển mạnh mẽ. Nhiều địa phương đã quét được bọn xâm lược, không còn tề ngụy, Việt gian, giành quyền làm chủ. Phong trào chiến tranh du kích phát triển ở khắp nơi, nhiều khu du kích, căn cứ du kích xuất hiện ngay trong lòng địch, tạo ra thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc, sẵn sàng làm chỗ đứng cho các tiểu đoàn tập trung không chỉ ở vùng giáp ranh mà ngay cả trong vùng địch kiểm soát.

Tại huyện Ý Yên lúc đó là địa bàn đông dân, nơi sản xuất ra nhiều lúa, gạo, nguồn cung cấp nhân lực, vật lực dồi dào, thực dân Pháp đã tập trung lực lượng lớn để càn quét, giành giật với ta. Cấp ủy và chính quyền các địa phương đã cùng với cán bộ, chiến sĩ các đại đội độc lập phát động nhân dân xây dựng làng, xã chiến đấu, tạo thế cài răng lược, đánh bại nhiều cuộc càn quét của địch. Phong trào chống càn đã diễn ra quyết liệt giữa ta và địch để giành, giữ dân, giữ đất. Mô hình làng bảo vệ làng, xã bảo vệ xã và cụm làng xã chiến đấu tiêu biểu được nhân rộng, góp phần thiết thực phá âm mưu càn quét, bình định của địch, biến hậu phương địch thành tiền phương ta.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, du kích Cát Đằng giữ vai trò quan trọng trong thế trận chiến tranh nhân dân, cùng quân dân trong Tỉnh đánh nhiều trận, lập chiến công lẫy lừng. rất nhiều người đã lập nên những chiến công hiển hách nhưng cũng có nhiều chiến sỹ đã anh dũng hy sinh vì nền độc lập tự do của Tổ quốc:

Bà  Đinh Thị Vĩnh đã tuyên truyền, giác ngộ  được 3 binh lính địch đầu hàng thu được 3 khẩu súng cho du kích

Ông Đinh Văn Thóc là thành viên tổ du kích Cát Đằng, do gia đình có nền kinh tế khá giả nhất so với các thành viên khác lúc đó nên đã vận động gia đình cung cấp rất nhiều lương thực, thực phẩm và cả ngân khố cho du kích mua vũ khí chống giặc.