55 lượt xem

Tìm Hiểu Văn Hóa Bùa Chú Trong Thuật Phong Thủy Của Người Việt

VĂN HÓA BÙA CHÚ

BÙA CHÚ

Chúng ta sinh vào thời khoa học,đặc biệt là thế kỷ 20 này, thế kỷ của Vệ tinh, Hỏa tiễn, của kỹ thuật của Đại kỷ nghệ, lẽ tức nhiên chúng ta phải sùng thượng khoa học. Hễ cái gì không thể dùng lý luận khoa học giải thích được thì người ta cho là ‘Dị đoan’ là phản khoa học.

Nhưng riêng đối với vấn dề Bùa Chú, ta có thể tự đặt một dấu hỏi :
– Bùa Chú phát minh từ thời cổ sơ, đã trên 5 ngàn năm, thế mà gần đây ở một vài nơi hãy còn dùng, nhất là để trị bịnh, không lẽ nó hoàn toàn vô giá trị ?
Chắc phải có vài hiệu nghiệm gì khả dĩ tin được. Đặc biệt là ngay hiện nay, các giới Huyền bí học Âu Mỹ vẫn nghiên cứu Bùa Chú và công nhận đó là một môn học tối cổ của người Đông Phương. Bác sĩ D’Alveydre, bác sĩ papus, trong quyển ‘Traité méthodique de science Occulte” đã nghiên cứu về Bùa Chú rất tận tường, Một người Mỹ,bác sĩ willington, đã tìm được bộ “Phù chú toàn thư” của Trung Quốc, đã thực nghiệm và dịch ra tiếng Anh.
Nhưng không phải vì các nhà Học giả Âu Mỹ nghiên cứu về Bùa Chú mà chúng ta phải bắt chước họ, tin Bùa Chú. Tâm – Pháp và Lực – Học
Bạn cầm chiếc địa bàn lên tay, bạn thấy cây kim nam châm luôn luôn quay về hướng Bắc. Địa dư học cho bạn biết rằng ở hai đầu quả địa cầu có hai khối từ điện và chính hai luồng Từ Điện đó là sức mạnh hút cây kim nam châm, một đầu chỉ hướng Bắc, một đầu chỉ hướng Nam.

VĂN HÓA BÙA CHÚ
VĂN HÓA BÙA CHÚ

Do sức mạnh của Từ Điện, chúng ta biết rằng trong không gian có vô số những luồng quang tuyến khác, từ mặt Trời cũng như các Hành Tinh khác trong vũ trụ dội lại, cùng ảnh hưởng với nhau. Cứ xem nước lớn nước ròng. Trăng tròn là lúc mặt Trăng đến gần trái đất, phóng mạnh những luồng Điện từ của nó xuống làm áp lực, vì thế nên mặt nước dâng lên. Tóm lại, trong không gian có cả một sức mạnh vô hình có thể thay đổi các hiện tượng trên mặt đất Sức mạnh đó, ta gọi là Điện từ lực. Mỗi hành động, mỗi tiếng động từ trái đất và các Hành tinh phát ra cũng đều phát sanh Điện từ lực. Mà hành động và tiếng nói của chúng ta là do tâm phát ra. Như vậy; ta biết rằng tâm lý có thể biến thành sức mạnh.
Do sức mạnh của tâm lý mà có khoa trị bệnh bằng phương pháp Tâm phân học, gọi tắt là tâm pháp.
–   Tâm lý tập trung vào những nét của lá Bùa.
–   Ngón tay tùy theo tâm lý, vẽ những nét Bùa  trên chén nước, phát ra một thứ điện từ lực
– Sức mạnh tâm lý, sức mạnh Điện từ, kết hợp thành một khối sức mạnh đặc biệt do Thân (bàn tay) Khẩu (âm thanh) Ý (tức tâm lý) tập trung và phát ra, cùng với nước trong chén, đẩy tuốt cái xương vào cuống họng.
Từ nét vẽ của lá Bùa đến lời lẽ và âm thanh của câu chú, tất cả đều nhằm tạo sức mạnh phối hợp của Thân, Khẩu, Ý.
Thần lực tức là Điện. Nói một cách khác, nó là tâm lực. Bởi vì tất cả đều do tâm mà ra. Tâm chuyển được vật bởi tâm phát ra Điện từ lực.
Phật học chủ trương “Tâm và vật” đồng một thể, hay nhất thiết duy tâm tạo, chính là ý ấy.
Đã biết rằng Tâm có thể chuyển được vật thì cũng biết rằng Tâm có thể chuyển được Tâm. Những Bùa yêu, bùa thương, bùa tạo mộng đẹp, v.v…đều phát sinh bởi cái lý đó. Theo sách “Giang hồ bí thuật” sở dĩ vua Hiên Viên Huỳnh Đế phát minh ra Bùa Chú, chính là một phương pháp trị bệnh bằng tâm lý vừa ra không tốn kém vừa tránh được nạn lầm thuốc do các tay lang băm giang hồ thời xa xưa chẩn bịnh và cho thuốc bừa bãi gây ra.

BÙA LỖ BAN

Thiên hạ từng đồn đại nhiều giai thoại ly kỳ về bùa lỗ ban, Chẳng hạn dòng nước chảy xuôi, thầy bùa “Niệm thần chú” rồi thấy nhành hoa xuống, cành hoa sẽ… trôi ngược hoặc một cành cổ thụ sắp gãy đe dọa mái nhà, vì một lý do gì đó không thể đốn được, mời thầy lỗ ban lại làm “phép” ngủ một đêm thức dậy thấy cành cây đã … xoay qua hướng khác tự bao giờ ! Ngày xưa những người cất nhà mới rất sợ bị Cấn thợ mộc “ếm” bùa lỗ ban. Giai thoại về bùa lỗ ban trong chuyện cất nhà cũng là rùng rợn. Có nhà khi cất, chủ nhà bủn xỉn, làm khó, chê trách cánh thợ mộc đủ đều, ông thợ Chấn giận quá ra tay “ếm” bùa lỗ ban cho bõ ghét. Sau khi bàn giao nhà, đêm nào mọi người cũng nghe tiếng …xe lửa chạy ! Giai thoại khác thì kể rằng, cũng do đối đãi không “đẹp” với cánh thợ mộc mà căn nhà bị-“ếm”, đêm đêm chủ nhà thường thấy có bóng người đứng đầu giường, xem mình ngủ (!) sau nhờ một pháp sư “cao tay ấn” tình cờ đi ngang phát hiện ghé vào gỡ cho mới hết. Rồi bùa  “ếm” có khi là 5 cây đinh đóng lút ở một nơi kín đáo, có khi là miếng vải đỏ nhét vào trong mộng đòn tay, có khi là … xương người chôn dưới lu nước, v.v… Có 1001 kiểu “ếm”, chẳng biết lối nào là lần.

BÙA TRẤN YỂM

VĂN HÓA BÙA CHÚ
VĂN HÓA BÙA CHÚ

Người phát minh ra “phù“ (bùa) là Hoàng Cống Thạch, vẽ bùa lên thân cây đào, mận, hạnh, hoặc vẽ bùa trên giấy đeo vào người, hoặc treo trước nhà, hoặc để trong nhà, hoặc chôn dưới đất, để trừ họa.
Bùa ngũ nhạc trấn trạch, chia làm trung, đông, tây, nam, bắc : năm lá bùa. Phàm là gia trạch bất an, hoặc hung thần tà quỷ gây rối, thì dùng bùa này để trấn các tà ma không dám đến gần.
– Bùa trấn trạch thập nhị niên thô phủ thần sát, gồm 12 lá : Tí, Sửu, Dần,Mẹo, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu,Tuất, Hợi. Phàm là tu tạo nhà cửa phạm thổ hung thần,thì dùng ván gỗ cây đào ở chỗ  phạm.
Bùa trấn tứ phương thổ cấm tính thoái phương thần, gồm 4 loại bùa : Hợi Tí Sửu, Tị Ngọ Mùi, Thân Dậu Tuất, Dần Mão Thìn. Phàm là ngộ phạm tam sát hung thần, vẽ bùa lên ván gỗ cây đào đặt ở chỗ phạm.
Bùa tam giáo cứu trạch, gồm 8 lá chia theo bát quái, khi tai họa trong nhà không chấm dứt, thì bùa này.
Ngoài ra, có bùa trấn hành niên kiến trạch thần, bùa trấn bát vị quái hào nghịch thần, bùa trấn phân phòng tương khắc thần, bùa trấn nguyên không trang quái dị tu thần, bùa tu tạo dự trấn thần,, bùa đi đổ dự trấn thần, bùa trấn tứ lân khởi thổ tu tạo ngộ phạm ngã gia thổ phủ hung thần, bùa trấn tứ quí ngộ phạm thổ vương sát thần, bùa trấn tà thần tà khí tác quái trong nhà, bùa làm lợi cho kinh doanh, bùa phù hộ cho heo hay ăn mau lớn v.v…
Đa phần những bùa này đểu vẽ bằng son lên gỗ đào, kích thước miếng gỗ có qui định hẳn hoi, như rộng một thước hai, khớp với 12 tháng : cao một thước hai, khớp với 12 giờ, tổng cộng 24 khí. Mặt ván vẽ hình, hoặc chỉ viết mỗi chữ “thiên“ hoặc “phúc“.
Viết xong, phải chọn giờ treo lên. Nếu là chữ “thiên” thì treo vào giờ thìn ngày mồng tám tháng tư. Mời một vị công bằng chính trực có đức độ viết hộ, rồi treo ở chỗ dễ thấy. Nếu là bùa   thôn (thôn phù) treo vào giờ Dần ngày Dần. Có loại bùa không chỉ treo đằng trước, mà treo cả bốn bên, thậm chí 8 bên, khiến tà khí không thể xâm nhập từ bất cứ hướng nào.
Thường có phép viết trên tảng đá. Phàm là người, nhà cửa xung với miếu thờ thần, đình chùa, thì viết trên tảng đá hai chữ “ngọc thanh’. Nếu nhà bị trộm cướp, viết trên tảng đá hai chữ “Ngọc đế’“, phàm là miếu vũ, phòng tích xung với nhà thì viết trên tảng đá hai chữ “Thái sơn”. Nếu nóc nhà hàng xóm chĩa thẳng vào nhà mình, thì viết trên tảng đá hai chữ “Kiền nguyên”. Ngoài ra, còn có “kim cương”, “thiên thông’ . ’kiền cương mậu kỷ”, “thiên phùng thánh hậu”… Những tảng đá này nặng từ 50 đến 100 cân, là đá xanh hoặc đá đỏ thì lành. Nếu là đá của Thái sơn thì cao bốn thước tám tấc, rộng một thước hai tấc, dày bốn tấc, chôn xuống đất tám tấc, chôn vào giờ dần ngày Ngũ Long, Ngũ hổ. Khi xúc phạm đất Hổ khẩu, Hổ vĩ, Thái tuế, thi dùng đá của Thái sơn trừ tà.
Lại có phép chôn vật xuống đất. Chôn hình nhân bằng gỗ, hình súc vật, trong đất. Có thể đắp hình nhân bằng đất hoặc bùn. Đất thì không phải đất thông thường, mà là đất tường thành, đất bếp, đất nơi mộ cổ. Nước cũng không phải nước thông thường mà là nước giếng cổ, nước tắm. Có khi chôn chuột móng ngựa, da rắn, tiết heo, xương Hổ v.v… Nói chung, chôn sâu một thước hai tấc.
Còn có phép chiếu gương, Có một loại gương Bạch hổ, nếu cổng này xung với nhà lầu, am miếu, chùa chiền, cột cờ, tháp bằng đá, thì treo gương trên cổng (cửa) để trấn, đại cát.
Lại có phép trát tường bằng đất nhão. Lấy đất bếp, đất phố, đất mộ cổ, đất giữa lòng đường, xương xọ chó đốt thành-than, đất ở phương Tuế Đức, nhào lẫn với nhau theo một tỷ lệ rồi trát lên tường là được đem dùng, mục đích là trấn an về tâm lý.
Bùa trấn

VĂN HÓA BÙA CHÚ
VĂN HÓA BÙA CHÚ

BÙA THƯỢNG LƯƠNG

Thượng Lương là một lễ rất quan trọng.
Nên chọn ngày tốt làm lễ cúng gia tiên và thổ thần, rồi chọn một người già vợ chồng song toàn, nhiều con lắm cháu, làm ăn khá giả để đặt cái nóc của gian chính giữa. Nếu nhà làm chưa xong mà chọn được ngày tốt người ta cũng tổ chức lễ này nhưng chỉ làm hai cái nạng để nâng đoạn cái nóc của gian chính giữa lên. Đoạn cái nóc này phải để nguyên cho đến khi cất nhà thì đặt vào vị trí của nó. Trong khi làm lễ, cái nóc được buộc hai cành lá thiên tuế và mấy vuông vải điều hay vóc đại hồng có vẽ hình bát quái.
Bàn thờ để làm lễ này phải đặt cùng với hướng nhà, chính gian giữa nơi sau này là chỗ đặt bàn thờ chính thức của gia đình. Cái nóc còn gọi là Thượng Lương. Thượng Lương được viết bằng chữ nho niên hiệu, ngày, tháng làm lễ này. Trên Thượng Lương treo vĩnh viễn một quyển lịch tàu. Trước năm 1945 lịch này do Bộ  Lễ của triều đình in, phân phát cho các địa phương để sao ra nhiều bản cấp cho những ai xin làm nhà. Trên lịch có vẽ đủ các vì tinh tú của Tử vi, đặt biệt là có dấu ấn của vua nên rất quý. Người ta tin rằng nhờ có dấu ấn đó nên lịch này rất linh thiêng có thể trừ được tà ma. Lịch càng cổ càng quý. Nếu sau này trong nhà có người chết nhằm giờ trùng thì người ta liệm người chết cùng với lịch này để trừ trùng. Nếu không có được quyển lịch ấy, thì phải rước một thầy pháp cao tay ấn về làm phép rồi xin bùa để treo trên thượng lương.
Lễ này bắt buộc phải mời các vị có chức sắc trong làng. Sau đó gia chủ mời mọi người kể cả phường thợ ăn uống linh đình.

MẪU VẼ BÙA THƯỢNG LƯƠNG

Thượng lương dựng bùa Tiên Thiên bát quái (bên phải) hoặc bùa Hậu Thiên bát quái (bên trái) dưới đây:

BÙA ẾM TÀ MA TRONG NHÀ

Về nhà mới

Lấy một cái chén mới hoàn toàn đựng nước giữa lòng giếng lấy trong lúc nửa đêm, rồi tay trái bắt ấn Bảo Thủ (lấy ngón tay giữa và ngón áp út co lại bấm vào lòng bàn tay mà giơ ngón tay cái, tay trỏ và ngón út thẳng lên mà bưng chén nước).
Còn tay mặt bắt ấn Cát Tường như sau (ngón cái co lại bấm đầu ngón tay áp út và giơ ngón tay trỏ, ngón tay giữa và ngón út lên mà vẽ chữ (lãm) vào chén nước và tụng 21 lần chú Chuẩn Đề trên .Rồi đứng giữa nhà lấy tay nhúng vào nước mà rẫy cả tám phương trên dưới :
Sau cùng dùng son viết chín chữ :

Vào trong giấy vàng mà dán lên mấy cửa cho đủ rồi chí tâm cầu nguyện với Phật và tụng chú ấy luôn ba đêm thì nhà ở bình yên vô sự, yêu quái không dám bén mãn đến.
Còn như nhà đang ở mà sanh ra yêu quái, rầy rà, đau ốm thì cũng y theo chú ấy, chú tâm trì tụng ba ngày, ba đêm thì tất nhiên bặt dấu tà ma, bệnh lành và gia đạo hạnh phúc

TRÙ ẾM

VĂN HÓA BÙA CHÚ
VĂN HÓA BÙA CHÚ

Nói chung, người Trung Hoa, người Việt, người Thượng, người Chàm … Trước đây đều làm trò ếm. Mỗi người có một lối ếm riêng mà mục đích.là cốt làm hại ai đó mà chính mình không ưa, hay để quàng cái ách của mình cho kẻ khác.
Người Trung Hoa ếm. Thường dùng một hình nhân hoặc bằng rơm trên đầu có lá bùa viết tên họ người bị ếm hoặc một hình vẽ trên giấy. Nếu muốn tiêu diệt một bộ phận: trên  thân thể người đó họ có thể dùng một cái cung dâu ,mộtcon dao tre, bắn hoặc đâm vào hình giả. Một cách ếm khác của người Trung Hoa là ngôi nhà, chọn những giờ sát tử hoặc giờ trùng, hoặc đêm hôm khuya khoắt, kêu tên người kia ra rồi triệu một con quỷ nào đó đến nhờ tiêu diệt. Nhiều khi họ còn dùng vật xú uế của người khác để ếm. vẫn còn nhiều cách ếm khác, Nhưng việc ếm của người Trung Hoa vẫn thường nhắm mọi mục đích tranh thương.
Người Việt vẫn thường nghe nói có mấy lối ếm sau đây.
Hồi trước, phần lớn nhà cửa đều lợp tranh gài vách đất. Trộm thường đào ngạch qua vách ở những chổ kín trong buồng  tối để dễ ẩn bóng nhiều khi hắn đi rồi, nếu dưới đất chỗ đào ngạch còn dấu chân, thì chủ nhà lấy đũa bếp cắm vào giữa dấu hai bàn chân. Còn không thì người ta lấy hai chiếc đũa bếp gác chéo qua lỗ ngạch. Vì tin rằng nếu tên trộm nào đó bị ếm bằng đũa bếp như trên hôm sau hắn bị què đi không được nữa  hay bị treo cổ.
Thợ mộc cũng có cách ếm riêng. Khi làm nhà, bị chủ nhà hạch sách quá đáng, hắn có thể đẽo lộn gốc cây kèo, hay vẽ một hình nhân trên đầu cột cái dưới cây đòn tay giữa (đòn dông). Một cách khác là  trước khi đóng vào lỗ kèo hắn kiếm cách kêu tên người chủ nhà để người kia ơi lên một tiếng, đang lúc hắn lấy búa đóng chốt thật mạnh. Hắn tin rằng tiếng ơi kia sẽ bị nhét vào đó.
Cây đòn tay giữa đối với người nông thôn thật vô cùng hệ trọng. Muốn dựng một cái nhà, bao giờ người nông thôn cũng chọn ngày lành tháng tốt rồi đưa nó lên trước, có treo ngay giữa một tấm bùa bát quái. Đến hôm nó được gắn lên cột cái thì ít nhất trên đầu cột phải lót một cuốn lịch Tàu (Có lẽ trong lịch Tàu có tên tuổi mấy vị thần linh với bùa chú),
Thế rồi, coi chừng người khác ếm đối phương có thể dùng một cây cung gác trên đợt cây nào gần đó có gắn mũi tên hướng vào cây đòn tay giữa.
Có nhiều cách ếm khác. Ví dụ ếm bằng đồ ăn, bằng thức dùng hàng ngày làm ra vẽ như đánh rơi ngoài đường.
Sau đây là một lối ếm mà người Chàm lẫn người Việt đều dùng.
Viết tên họ, quê quán của kẻ thù vào miếng giấy đỏ, xếp lại đặt dưới chân ông táo giữa. Kẻ bị ếm sẽ thấy nóng nảy điên cuồng chắc vì bị Táo đốt. Nhưng người Việt văn minh hơn dùng quách một tấm ảnh để rồi khỏi viết tên họ. Bây giờ nhiều ông cụ bà cụ cấm con cháu xé ảnh liệng vào bếp, cũng vì sợ lẽ đó.
Muốn làm cho người khác to bụng rồi chết, người ta nhốt tên họ kẻ kia vào bình vôi liệng rải rác dưới gốc cây, đầu đình …
Riêng người Chàm có cách ếm bằng cá. Người ếm cho tên họ kẻ thù vào bụng một con cá roi vứt xuống sông. Khi gia đình nạn nhân hay kịp liền tìm kiếm đến chỗ đầu giòng sông, rải cơm, múa hương, gọi ba tiếng cá về, bắt lấy tên họ ra, người ta tin rằng nạn nhân sẽ tai qua nạn khỏi. Ngoài ra người Chàm còn ếm bằng súc vật nặn bằng đất. Người Chàm có tài hớp hồn và dặn nhau : đi trong đêm vắng, chạng vạng hoặc giữa trưa, nếu nghe ai gọi tên mình thì chớ ơi, nếu mở miệng ra thì khốn. Tiếng kêu the thé dễ sợ lắm,
Người Thượng ngoài những lối ếm riẽng của họ, còn có phép “thư” Người ta vẫn thường nghe chuyện những người đi qua xứ Thượng, lấy vợ Thượng về sau bỏ đi không trở lại, rốt cuộc bị chết rất bí mật. Người đi buôn trên rừng, ở Trung, gọi là “Đò đưa” Thượng vẫn gian lận với những anh bạn “Việt Nam mới” ấy. Nếu họ không biết thì thôi, chớ đã biết rồi thì kẻ gian thường khó tránh chết với họ. Họ thư rất tài. Không rõ làm cách nào một con dao, một cái bùa lọt vào bụng địch thủ. Kẻ bạc tình khôn hồn nên trở lại nài nỉ xin với  các chị, kẻ buôn lường phải mau mau thú lỗi với họ. Còn không thì con dao sẽ hiện nguyên hình mổ xẻ ruột gan cho đến chết!
Vào một vườn Thượng, phải coi chừng những cây cọc trăng trắng, cắm trên những mô đất. Ăn uống chi đó, chẳng sao, nhưng hái trái đem về thì phải liệu !
Nhiều người ngán cái trò ếm này đến mất ăn mất ngủ.
Thấy cái gì khang khác thì trong bụng cứ rờn rợn. Lúc ấy ông thầy pháp được mời tới, trấn bốn phía nhà bốn đạo bùa yểm trợ, dĩ nhiên cũng phải kèm theo lễ vật : 3 con gà mái lông trắng (có thể lấy gà đen) một chai rượu cất, một mâm xôi,  chén gạo ,chén muối, để cúng tạ ơn.

Làng nghề Cát Đằng cung cấp thông tin chi tiết về bài viết
Tìm Hiểu Văn Hóa Bùa Chú Trong Thuật Phong Thủy Của Người Việt
Tên bài báo
Tìm Hiểu Văn Hóa Bùa Chú Trong Thuật Phong Thủy Của Người Việt
Thông tin mô tả chi tiết
Chúng ta sinh vào thời khoa học,đặc biệt là thế kỷ 20 này, thế kỷ của Vệ tinh, Hỏa tiễn, của kỹ thuật của Đại kỷ nghệ, lẽ tức nhiên chúng ta phải sùng thượng khoa học. Hễ cái gì không thể dùng lý luận khoa học giải thích được thì người ta cho là 'Dị đoan' là phản khoa học.
Nhà báo
Bản quyền nội dung
Làng Nghề Cát Đằng
Logo
Hotline: 0353.247.247
Chat Facebook
Gọi điện ngay